Mấy giờ rồi nhỉ?

cà phê nhé!

Tài nguyên dạy học

Thành viên trực tuyến

1 khách và 0 thành viên

Thống kê

  • truy cập   (chi tiết)
    trong hôm nay
  • lượt xem
    trong hôm nay
  • thành viên
  • Hôm nay ngày mấy nhỉ?

    Ngày này năm xưa

    Bộ GD&ĐT

    Lời hay, ý đẹp

    Báo Mới đây!

    Hỗ trợ trực tuyến

    • (pmtuan69td)

    Điều tra ý kiến

    Bạn thấy trang này như thế nào?
    Đẹp
    Đơn điệu
    Bình thường
    Ý kiến khác

    Ảnh ngẫu nhiên

    TRAT_TU_HAI_CUC.jpg Phan_chia_pham_vi_anh_huong_sau_chien_tranh_the_gioi_thu_hai.jpg Nhung_canh_quan_tien_vao_Sai_gon_.jpg Nguon_loi_cua_tu_ban_Phap_o_Viet_Nam_trong_cuoc_khai_thac_lan_thu_hai.jpg Mien_Bac_XHCN__19651968.jpg Luoc_do_Van_Tuong_8__1965.jpg Luoc_do_phong_trao_Dong_Khoi.jpg Luoc_do_nuoc_Duc_.png Luoc_do_nuoc_CHND_Trung_Hoa_sau_ngay_thanh_lap.jpg Luoc_do_Nhat_Ban_sau_Chien_tranh_the_gioi_thu_hai.jpg Luoc_do_Lien_bang_Nga.jpg Luoc_do_khu_vuc_Mi_Latinh_sau_nam_1945.jpg Luoc_do_khoi_nghia_Yen_Bai_1930.jpg Luoc_do_hanh_trinh_cuu_nuoc_cua_Chu_Tich_Ho_Chi_Minh_19111941.jpg Luoc_do_Dong_Duong_nam_1954.jpg Luoc_do_CM_T8_1945.jpg Luoc_do_chien_dich_Viet_Bac_thu__dong_19471.jpg Luoc_do_chien_dich_Thuong_Lao.jpg Luoc_do_chien_dich_Tay_Nguyen.jpg Luoc_do_chien_dich_Hue__Da_Nang.jpg

    Sắp xếp dữ liệu

    Truyện cười

    ĐỪNG HÒNG QUAY BÀI NHÉ!

    BÁCH KHOA TOÀN THƯ

    Mừng ngày Nhà giáo Việt Nam

    Gốc > Tư liệu Lịch sử thế giới > Ả Rập >

    Chương 24, 25, 26, 27

    Sự tham dự của các quốc gia khác trong chiến tranh Arab-Israel ( chương 24 )


    Viện trợ cho Ai Cập và Syria

    Bắt đầu từ ngày 9-10, Liên Xô đã mở một cầu hàng không lớn đến Ai Cập và Syria. Giữa 2 ngày 9-10 và 22-10, cầu hàng không trung bình có 30 chuyến bay một ngày, sử dụng các máy bay vận tải tầm xa Antonov-12 và Antonov-22, bay từ căn cứ quân sự Hungary đến Cairo và Palmyra, bắc Damascus. Liên Xô cung cấp xe tăng, pháo và máy bay chiến đấu để thay thế cho những thứ phe Arab đã bị mất. Cầu hàng không đạt đỉnh điểm vào ngày 12-10 với tốc độ 18 chuyến bay 1 giờ.

    Bên cạnh Ai Cập, Jordan, Syria và Iraq, vài quốc gia Arab khác cũng dính líu đến cuộc chiến, qua việc cung cấp vũ khí và tài chính. Số lượng hỗ trợ không được khẳng định chắc chắn. Saudi Arabia và Kuwait giúp đỡ tài chính và gửi một ít quân tham gia chiến trận. Maroc đưa 3 lữ đoàn ra mặt trận, người Palestine cũng gửi quân. Pakistan cử đi 16 phi công. Bangladesh gửi đến một nhóm y tế. Algeria đưa đến 18 máy bay MiG-21, Lybia đóng góp hàng trăm tên lửa Strela, một phi đội máy bay Hunter từ Iraq và những chiếc trực thăng cùng 1 lữ đoàn bộ binh từ Sudan.

    Đài phát thanh Uganda thông báo rằng tổng thống Idi Amin có đưa quân Uganda đến chiến đấu với Israel. Cuba cũng gửi đến khoảng 1.500 quân bao gồm xe tăng và trực thăng, những người này đã đụng độ với quân Israel trên chiến trường.

    Viện trợ cho Israel

    Vào lúc bắt đầu chiến sự, các nhà lãnh đạo Mỹ đã hy vọng chiều hướng chiến tranh sẽ nhanh chóng thay đổi theo hướng có lợi cho quân đội Israel vốn được trang bị tốt hơn và quân Arab sẽ hoàn toàn bị đánh bại trong vòng 72 đến 96 giờ đồng hồ. Mọi sự trở nên rõ ràng vào ngày 9-10 rằng sẽ không có một sự đảo ngược nhanh như vậy xảy ra, và tổn thất của quân đội Israel vượt ngoài dự kiến.

    Vào cùng ngày, để đáp lại cầu hàng không của Liên Xô tới Ai Cập, tổng thống Nixon ra lệnh mở chiến dịch Nickel Grass, một cầu hàng không của Mỹ để thay thế cho tất cả các tổn thất của Israel. Israel bắt đầu nhận viện trợ vào ngày 13-10. Theo như Abraham Rabinovich, “trong khi cầu hàng không của Mỹ không thay thế ngay lập tức các thiết bị tổn thất của Israel, nó thực sự cho phép Israel dùng hết vũ khí của họ một cách thoải mái hơn”. Vào cuối chiến dịch Nickel Grass, Mỹ đã chuyển hơn 22.000 tấn trang thiết bị cho Israel.

     

    Lệnh ngừng bắn và hậu quả tức thì ( chương 25 )


    Sự mắc kẹt của tập đoàn quân số 3 Ai Cập

    Hội đồng bảo an Liên Hợp Quốc đã thông qua (tỷ lệ 14-0) nghị quyết 338 kêu gọi một sự ngừng bắn, chủ yếu là qua đàm phán giữa Mỹ và Liên Xô, vào ngày 22-10. Nó đã kêu gọi “tất cả các bên đang giao tranh” phải “chấm dứt mọi hoạt động quân sự ngay lập tức”. Nghị quyết có hiệu lực vào 12 giờ sau, lúc 6h52 giờ Israel. Bởi vì nó có hiệu lực sau khi màn đêm buông xuống, các vệ tinh giám sát không xác định được các chiến tuyến ở đâu khi giao tranh dừng lại. Trước khi lệnh ngừng bắn được thực thi, ngoại trưởng Mỹ Henry Kissenger đã nói với thủ tướng Golda Meir “Bà sẽ không vấp phải sự phản đối mạnh mẽ từ Washington nếu một điều gì đó xảy ra trong màn đêm, trong khi tôi đang bay. Không có gì diễn ra ở Washington cho đến trưa mai”.

    Khi lệnh ngừng bắn bắt đầu, quân Israel còn cách mục tiêu của họ vài trăm mét – con đường cuối cùng nối Cairo và Suez. Trong tối hôm đó, Ai Cập đã vi phạm lệnh ngừng bắn ở một số địa điểm, tiêu diệt 9 xe tăng Israel. Để trả đũa, David Elazar thỉnh cầu sự cho phép tiếp tục tấn công quyết liệt ở phía nam, và Moshe Dayan đã chấp thuận. Quân đội Israel hoàn thành cuộc tấn công phía nam, chiếm giữ con đường và chặn tập đoàn quân số 3 của Ai Cập ở phía đông kênh đào Suez.

    Sáng ngày hôm sau, 23-10, các máy bay do thám Liên Xô đã xác nhận là lực lượng Israel đang di chuyển về phía nam, và Liên Xô cáo buộc Israel đã vi phạm lệnh ngừng bắn. Trong một cuộc điện đàm với Golda Meir, Henry Kissinger hỏi “Bằng cách nào mà bất cứ ai cũng biết đường ranh giới ở đâu hay đã từng ở đâu trên sa mạc?” Meir đáp lại “Họ sẽ biết, chắc chắn thế”. Kissinger khám phá ra đội quân Ai Cập bị mắc kẹt không lâu sau đó.

    Kissinger nhận ra tình thế đặt ra với Mỹ là một cơ hội to lớn để kéo Ai Cập khỏi tầm ảnh hưởng của Liên Xô– Ai Cập hoàn toàn phụ thuộc vào Mỹ để ngăn cản Israel tiêu diệt đội quân mắc kẹt của họ, vốn hiện không có sự tiếp tế thức ăn và nước. Sau đó, Mỹ đã gây áp lực với Israel để nước này không tiêu diệt tập đoàn quân mắc kẹt, thậm chí đe dọa sẽ ủng hộ nghị quyết của Liên Hợp Quốc buộc Israel trở về với vị trí của họ vào ngày 22-10 nếu họ không cho phép những sự tiếp tế phi quân sự tiếp cận đội quân kia. Trong cuộc điện đàm với đại sứ Simcha Dinitz, Kissinger nói với vị đại sứ này rằng việc tiêu diệt tập đoàn quân số 3 của Ai Cập “là một lựa chọn không được phép tồn tại”.


    Khi lệnh ngừng bắn thực hiện, Israel mất phần lãnh thổ màu đỏ nhưng lại chiếm được phần màu xanh lá cây


    Nguy cơ hạt nhân

    Trong khi chờ đợi, Brezhnev gửi cho Nixon một lá thư vào nửa đêm ngày 23-24 tháng 10, Brezhnev đề nghị rằng Mỹ và Liên Xô cùng bảo đảm cho cả 2 phía thực hiện đúng lệnh ngừng bắn. Ông cũng đe dọa rằng “Tôi sẽ nói thẳng rằng nếu ngài thấy không thể hành động cùng chúng tôi trong vấn đề này, chúng tôi sẽ buộc phải hành động khẩn cấp bằng cách cân nhắc những bước đi đơn phương thích đáng. Chúng tôi không thể cho phép Israel tùy ý làm gì thì làm.” Tóm lại, Liên Xô đe dọa sẽ tham chiến về phía Ai Cập.

    Liên Xô đã đặt 7 sư đoàn không vận trong tình trạng khẩn cấp và cầu hàng không được sắp xếp để vận chuyển họ đến Trung Đông. Một sở chỉ huy trên không được thiết lập ở miền nam Liên Xô. Một vài đơn vị không quân cũng được báo động. “Các báo cáo cũng cho biết rằng ít nhất một trong số các sư đoàn và một phi đội máy bay vận tải đã di chuyển từ Liên Xô đến căn cứ không quân ở Nam Tư”. Người Liên Xô cũng triển khai 7 tàu đổ bộ với khoảng 40.000 lính thủy đánh bộ trên Địa Trung Hải.

    Lời nhắn nhủ đến sau khi Nixon đã đi ngủ. Kissinger ngay lập tức triệu tập một cuộc họp của các viên chức cấp cao, bao gồm bộ trưởng quốc phòng James Schlesinger, giám đốc CIA William Colby, và tham mưu trưởng Nhà Trắng Alexander Haig. Vụ bê bối Watergate đã đạt đến đỉnh điểm, và Nixon quá bối rối và lo lắng đến nỗi họ quyết định nghiên cứu vấn đề mà không có ông.
    Cuộc họp đã tìm ra một giải pháp hòa giải, được gửi đến cho Brezhnev (dưới tên của Nixon). Cùng thời gian này, họ quyết định nâng mức tình huống khẩn cấp từ mức 4 xuống mức 3 (lưu ý là mức thấp thì càng khẩn cấp). Cuối cùng họ gửi một thông điệp đến tổng thống Ai Cập Sadat (cũng với tên Nixon) yêu cầu ông thu hồi thỉnh cầu Liên Xô giúp đỡ, và đe dọa rằng nếu Liên Xô can thiệp thì tiếp theo sẽ là Mỹ.

    Liên Xô nhanh chóng phát hiện ra sự gia tăng mức tình huống khẩn cấp của Mỹ, và ngạc nhiên đáp trả rằng: “Ai có thể tưởng tượng được rằng người Mỹ lại dễ dàng hoảng sợ đến thế?” người đứng đầu đoàn chủ tịch Xô viết tối cao Nikolai Podgomy nói. Còn thủ tướng Alexei Kosygin phát biểu: “Thật vô lý khi gây ra chiến tranh với Mỹ vì Ai Cập và Syria”, trong khi giám đốc KGB Yuri Andropov tiếp lời: “Chúng ta sẽ không gây ra cuộc chiến tranh thế giới thứ 3”. Cuối cùng, Liên Xô đành chấp nhận thất bại của người Arab. Bức thư từ chính phủ Mỹ đã đến trong cuộc họp. Brezhnev quyết định rằng người Mỹ đã quá lo lắng, và tiến trình hành động tốt nhất là chờ đợi sự trả lời. Sáng hôm sau, Ai Cập đồng ý với đề nghị của Mỹ, và hủy bỏ lời thỉnh cầu giúp đỡ với Liên Xô, chấm dứt cuộc khủng hoảng.

    Sự xuống thang ở mặt trận phía bắc

    Ở mặt trận phía bắc, Syria đang chuẩn bị cho một cuộc phản công quy mô lớn, dự kiến vào ngày 23-10. Cùng với 5 sư đoàn của Syria, Iraq hỗ trợ thêm 2 sư đoàn và có cả những bổ sung quân đội nhỏ từ các quốc gia Arab khác, bao gồm Jordan. Liên Xô cũng thay thế phần lớn thiệt hại mà lực lượng xe tăng Syria đã gánh chịu trong tuần đầu tiên của chiến tranh.

    Tuy nhiên, trong ngày trước khi cuộc công kích bắt đầu, Liên Hợp Quốc đã áp đặt lệnh ngừng bắn (sau sự đồng thuận của cả Israel và Ai Cập). “Sự chấp nhận lệnh ngừng bắn của Ai Cập vào thứ 2 (22-10) đã tạo ra tình thế tiến thoái lưỡng nan cho Assad. Lệnh ngừng bắn không ràng buộc ông, nhưng dụng ý của nó thì không thể phớt lờ. Một số tướng lĩnh Syria ủng hộ việc thẳng tiến tấn công, tranh luận rằng nếu làm như thế, Ai Cập sẽ thấy buộc phải tiếp tục chiến đấu. Tuy nhiên, những người khác, lại phản bác rằng sự tiếp diễn chiến tranh sẽ hợp pháp hóa nỗ lực của Israel trong việc tiêu diệt tập đoàn quân số 3 của Ai Cập. Trong trường hợp này, Ai Cập sẽ không giúp đỡ Syria nữa khi Israel quay lại dốc toàn lực ở hướng bắc, phá hủy cơ sở hạ tầng của Syria và có thể tấn công cả Damascus.

    Cuối cùng thì Assad quyết định dừng cuộc tấn công, và vào ngày 23-10, Syria thông báo rằng họ chấp nhận lệnh ngừng bắn và chính phủ Iraq hạ lệnh cho quân đội của họ trở về nhà.

    Những cuộc đàm phán sau lệnh ngừng bắn

    Vào ngày 24-10, Hội đồng bảo an Liên Hợp Quốc thông qua nghị quyết 339, ra lời kêu gọi mới cho tất các các bên tôn trọng triệt để các điều kiện của lệnh ngừng bắn thiết lập trong nghị quyết 338. Giao tranh trên tất cả các mặt trận kết thúc vào ngày 26-10. Lệnh ngừng bắn không chấm dứt những giao tranh lẻ tẻ dọc theo tuyến ranh giới ngừng bắn, và nó cũng không làm mất đi tình trạng căng thẳng quân sự. Tập đoàn quân số 3 của Ai Cập, bị cắt đứt khỏi mọi phương thức tiếp tế, là một con tin hiệu quả cho người Do Thái.
    Israel nhận được lời đe dọa của Kissinger sẽ ủng hộ một nghị quyết rút quân của Liên Hợp Quốc, nhưng trước khi họ có thể trả lời, cố vấn an ninh quốc gia Ai Cập Hafez Ismail đã gửi cho Kissinger một lời nhắn cực kỳ bất ngờ - Ai Cập sẵn lòng thương thuyết trực tiếp với Israel, với điều kiện là Israel phải đồng ý cho những cuộc tiếp tế phi quân sự cho đội quân của Ai Cập và đồng ý với một lệnh ngừng bắn hoàn toàn.

    Cuộc thương lượng được tổ chức vào ngày 28-10, giữa thiếu tướng Israel Aharon Yariv và thiếu tướng Ai Cập Abdel Ghani el-Gamasy. Cuối cùng, Kissinger đưa ra đề nghị với Sadat, người đã đồng ý hầu hết mà không tranh cãi gì thêm. Các trạm kiểm soát của Liên Hợp Quốc được dựng lên thay thế cho các trạm kiểm soát của Israel, các cuộc tiếp tế phi quân sự được cho phép đi qua và các tù binh chiến tranh được trao đổi. Một hội nghị thượng đỉnh tại Geneva được tổ chức tiếp sau đó, và rốt cuộc, một thỏa thuận đình chiến được tiến hành. Vào ngày 18-1, Israel ký một thỏa thuận rút lui sang phía đông kênh đào, và đội quân cuối cùng của họ đã rút đi khỏi bờ tây kênh đào vào ngày 5-3-1974.

    Ở mặt trận Syria, những chuyến ngoại giao con thoi của Henry Kissinger cũng đưa ra được một thỏa thuận ràng buộc vào ngày 31-5-1974, dựa trên sự trao đổi tù binh chiến tranh, Israel rút quân về đường ranh giới tía và sự thành lập vùng đệm an ninh của Liên Hợp Quốc. Israel buộc tội Syria tra tấn tù binh của họ, vi phạm công ước Geneva. Thỏa thuận này đã chấm dứt những đụng độ nhỏ và những cuộc đấu pháo xảy ra thường xuyên dọc theo ranh giới ngừng bắn Israel-Syria. Lực lượng quan sát viên không can dự của Liên hợp quốc (UNDOF) được thành lập với tư cách là lực lượng gìn giữ hòa bình ở Golan.

    Hậu quả lâu dài của cuộc chiến tranh ( chương 26 )

     


    Sự thảo luận về hòa bình vào lúc kết thúc chiến tranh là lần đầu tiên người Arab và người Do Thái chính thức gặp gỡ trong một cuộc thảo luận công khai trực tiếp kể từ sau cuộc chiến tranh năm 1948.

    Ở mức độ chiến lược, khi kết thúc chiến tranh, Israel giành lại được lãnh thổ ở cao nguyên Golan và bao vây tập đoàn quân số 3 của Ai Cập. Một số người tin rằng lệnh ngừng bắn ngăn chặn Israel giáng một đòn tàn độc nhất, như một báo cáo của quân đoàn hải quân Mỹ xác nhận: “Họ lúc này đang ở vị trí là mối đe dọa với hậu phương và các vùng tiếp tế của toàn bộ quân đội Ai Cập. Phần lớn nhờ các nỗ lực của Liên Xô, nước lo lắng về một thất bại nghiêm trọng của Ai Cập, hội đồng bảo an Liên Hợp Quốc mới áp đặt lệnh ngừng bắn ngày 22-10”.

    Báo cáo cũng biện luận rằng phía Arab đã thành công trong việc gây bất ngờ với Israel và các cơ quan tình báo toàn thế giới: “Hoàn toàn từ góc nhìn quân sự, thì thành công quan trọng nhất của Arab là sự bất ngờ chiến lược đã đạt được. Trong khi điều này được trợ giúp ở mức độ không nhỏ bởi các sai lầm của tình báo Israel và ban lãnh đạo chính trị, quân sự đất nước này, chủ yếu vẫn phải công nhận kế hoạch nghi binh cực kỳ phức tạp của người Ai Cập. Họ đã thành công trong việc thuyết phục bộ chỉ huy Israel rằng các hoạt động quân sự rầm rộ ở bờ tây kênh đào trong suốt mùa hè và mùa thu năm 1973 không là gì khác ngoài một chuỗi các chiến dịch huấn luyện và diễn tập. Sự nghi binh này chắc phải được coi là một trong số những kế hoạch nghi binh nổi tiếng trong lịch sử quân sự. Kế hoạch thành công không chỉ ở mức độ tình báo Israel mà còn với các cơ quan tình báo trên toàn thế giới”.
    Đối với các quốc gia Arab (đặc biệt là Ai Cập), tổn thương tinh thần của thất bại trong cuộc chiến Sáu Ngày đã được chữa lành. Trên nhiều phương diện, nó cho phép họ đàm phán bình đẳng với Israel. Tuy nhiên, dù cuộc chiến đã bắt đầu theo chiều hướng mà các nhà lãnh đạo Arab mong muốn, nhưng kết thúc chiến tranh họ mới chỉ giành lại được phần lãnh thổ hạn chế ở mặt trận Sinai, trong khi Israel lại giành thêm phần lãnh thổ trên cao nguyên Golan nhiều hơn lúc trước chiến tranh. Và dù cũng có một thực tế là Israel đã giành được chỗ đứng vững chắc ở vùng đất châu Phi phía tây kênh đào, nhưng chiến tranh đã giúp thuyết phục nhiều nước trong thế giới Arab rằng Israel không thể bị đánh bại về mặt quân sự, do đó củng cố cho các hành động hòa bình. Cuộc chiến thực sự chấm dứt tham vọng của người Arab trong việc hủy diệt Israel bằng sức mạnh.

    Cuộc chiến gây ra hậu quả choáng váng với dân chúng Israel. Sau chiến thắng của họ trong cuộc chiến Sáu Ngày, quân đội Israel trở nên kiêu ngạo. Những thất bại đột ngột và gây sốc xảy ra lúc chiến tranh bắt đầu đã giáng một cú đòn tâm lý kinh hoàng cho người Do Thái, những người đã nghĩ rằng họ có đội quân uy quyền tối cao trong khu vực. Tuy nhiên, họ bắt đầu nhận ra một điều kinh ngạc, hầu như chưa từng xảy ra, đã thay đổi hoàn toàn những gì họ có: “ Hoảng loạn từ những đòn tấn công bất thình lình từ 2 mặt trận với một số lượng lớn quân đội vẫn chưa được huy động, và bị đe dọa bởi những sự thật choáng váng trên chiến trường, Israel lúc này như một quốc gia hùng mạnh sắp phải quỳ gối đầu hàng. Tuy nhiên, trong vòng vài ngày, nó đã lấy lại sự thăng bằng và trong gần 2 tuần, nó đã đe dọa thủ đô của cả 2 kẻ địch, một thành tựu hầu như không xảy ra trong lịch sử”.

    Tuy nhiên, ở Israel, tỷ lệ thương vong lại khá cao. Tính theo đầu người, Israel phải chịu thiệt hại gấp 3 lần trong chiến trận so với Mỹ đã gánh chịu trong gần một thập kỷ giao tranh ở Việt Nam.

    Để trả đũa việc Mỹ ủng hộ Israel, các thành viên Arab của tổ chức OPEC, đứng đầu là Saudi Arabia, đã quyết định giảm sản lượng dầu 5% mỗi tháng vào ngày 17-10. Vào ngày 19-10, tổng thống Nixon cho phép viện trợ quân sự 2,2 tỉ đô la dành riêng cho Israel. Đáp lại, Saudi Arabia tuyên bố cấm vận với Mỹ, sau đó được nhiều nước xuất khẩu dầu khác tham gia, và mở rộng cấm vận với cả Hà Lan và các quốc gia khác, gây ra cuộc khủng hoảng năng lượng năm 1973.

    Thành công ban đầu của cuộc chiến đã gia tăng mạnh mẽ uy tín của Sadat, tạo cho ông quyền lực vững chắc ở Ai Cập vào cơ hội để đề xướng nhiều cải cách mà ông thấy cần thiết. Trong những năm sau đó thì điều này lu mờ dần, và cuộc bạo loạn lương thực chống chính phủ ở Cairo năm 1973 đã có khẩu hiệu là: “Người anh hùng của cuộc vượt kênh, bữa ăn sáng của chúng tôi đâu?”

    Những ảnh hưởng sau đó ở Israel

    Một làn sóng phản đối chính phủ Israel đã bắt đầu 4 tháng sau khi chiến tranh kết thúc. Phong trào này được lãnh đạo bởi Motti Ashkenazi, chỉ huy của công sự Budapest, ở cực bắc pháo đài Bar-Lev và là công sự duy nhất không bị Ai Cập chiếm giữ trong suốt cuộc chiến. Sự giận dữ đối với chính phủ (và đặc biệt là bộ trưởng quốc phòng Dayan) gia tăng. Shimon Agranat, chủ tịch tòa án tối cao Israel, đã được yêu cầu đứng đầu một cuộc điều tra, gọi là ủy ban Agranat, về những sự kiện dẫn đến chiến tranh và những thất bại trong vài ngày đầu tiên.

    Ủy ban Agranat đã công bố những phát hiện sơ bộ của họ vào ngày 2-4-1974. Sáu người sau bị buộc phải chịu trách nhiệm cho những thất bại của Israel:

    - Tham mưu trưởng lực lượng phòng vệ Israel (IDF) David Elazar được đề nghị bị sa thải, sau khi ủy ban nhận thấy ông gánh “trách nhiệm cá nhân cho những đánh giá về tình trạng và sự chuẩn bị chiến đấu của IDF”.

    - Giám đốc tình báo Aluf Eli Zeira, và cấp phó của ông, người đứng đầu cơ quan nghiên cứu, chuẩn tướng Aryeh Shalev, được đề nghị bị sa thải.

    - Trung tá Bandman, người đứng đầu bộ phận nghiên cứu tình báo quân sự Aman đặc trách về Ai Cập, và trung tá Gedelia, giám đốc tình báo của bộ chỉ huy miền nam, được đề nghị chuyển khỏi công tác tình báo.

    - Shmuel Gonen, chỉ huy mặt trận phía nam, được đề nghị bị giáng chức. Ông bị buộc rời khỏi quân đội sau sự công bố bản báo cáo cuối cùng của ủy ban, vào ngày 30-1-1975, trong đó đã phát hiện ra rằng “ông đã thất bại trong việc thực hiện nhiệm vụ một cách thích đáng, và gánh chịu nhiều trách nhiệm đối với tình thế hiểm nghèo mà quân đội của chúng ta gặp phải”.

    Mặc dù bản báo cáo đã xóa sạch trách nhiệm của thủ tướng Meir và bộ trưởng quốc phòng Dayan, nhưng những lời kêu gọi từ chức dành cho họ (đặc biệt là với Dayan) ngày càng trở nên mạnh mẽ hơn.

    Cuối cùng, vào ngày 11-4-1974, Golda Meir đã từ chức. Chính phủ của bà cũng làm theo, bao gồm cả Dayan, người trước đó đã đề nghị được từ chức 2 lần và đều bị Meir bác bỏ. Yitzhak Rabin, người đã dành phần lớn thời gian làm cố vấn cho Elazar, trở thành người đứng đầu chính phủ mới, được bầu vào tháng 6.

    Vào năm 1999, vấn đề được lật lại bởi ban lãnh đạo chính phủ Israel để ngăn chặn những thiếu sót tương tự lại lặp lại. Hội đồng an ninh quốc gia Israel đã được thành lập để cải thiện sự phối hợp giữa các cơ quan an ninh và tình báo khác nhau.

    Hiệp ước trại David

    Chính phủ của Rabin bị dính phải 2 vụ bê bối, và ông đã buộc phải ra đi vào năm 1977. Đảng Likud cánh hữu, dưới sự lãnh đạo của Menachem Begin, đã chiến thắng trong cuộc bầu cử sau đó. Điều này đánh dấu một sự thay đổi lịch sử trong bối cảnh chính trị Israel, lần đầu tiên từ khi nhà nước này được thành lập, liên minh cầm quyền trong chính phủ không do đảng Lao Động lãnh đạo.

    Sadat, người tham gia cuộc chiến nhằm mục đích lấy lại Sinai từ tay Israel, ngày càng nản lòng trước những bước đi chậm chạp của tiến trình hòa bình. Trong một cuộc phỏng vấn năm 1977 của phóng viên CBS News là Walter Cronkite, Sadat thừa nhận rằng ông đã mở một cuộc đối thoại mang tính xây dựng về hòa bình, bao gồm cả một chuyến viếng thăm cấp nhà nước. Đây dường như là một sự trút hết cõi lòng mình của ông, và trong cuộc phỏng vấn sau đó cũng với phóng viên này, thủ tướng cứng rắn Begin – có lẽ không muốn bị so sánh là không thiện chí như Sadat – đã nói rằng ông rất sẵn lòng tiến tới mối quan hệ tốt đẹp hơn và đã đề xuất một lời mời cho một chuyến viếng thăm như vậy. Vì vậy, vào tháng 11 của năm đó, Sadat đã tiến hành một bước đi chưa có tiền lệ là thăm Israel, trở thành nhà lãnh đạo Arab đầu tiên làm như thế và coi như đã công nhận nhà nước Do Thái.

    Hành động này đã khởi động cho một tiến trình hòa bình. Tổng thống Mỹ Jimmy Carter đã mời cả Sadat và Begin đến một hội nghị thượng đỉnh ở trại David để đàm phán về sự hòa giải cuối cùng. Cuộc hội đàm được tổ chức từ ngày 5-17 tháng 9 năm 1978. Cuối cùng, cuộc hội đàm đã thành công, và Israel cùng Ai Cập ký hiệp ước hòa bình Israel-Ai Cập năm 1979. Israel rút quân và các khu định cư khỏi bán đảo Sinai, đổi lại là mối quan hệ bình thường từ phía Ai Cập và một nền hòa bình lâu dài.

    Nhiều nước trong cộng đồng Arab đã giận dữ khi thấy Ai Cập hòa bình với Israel. Ai Cập bị khai trừ ra khỏi liên đoàn Arab. Sự căng thẳng của Ai Cập với các nước Arab láng giềng lên đến cực điểm vào năm 1977 trong cuộc chiến tranh ngắn ngủi Libye-Ai Cập.

    Anwar Sadat đã bị ám sát 2 năm sau đó, vào ngày 6-10-1981, khi tham dự một cuộc duyệt binh kỷ niệm 8 năm ngày bắt đầu cuộc chiến, bởi một chiến binh Hồi giáo tức giận với việc ông đã đàm phán với Israel.

    Các hoạt động kỷ niệm

    Ngày 6-10 là ngày lễ quốc gia của Ai Cập gọi là ngày lực lượng vũ trang. Đó cũng là một ngày lễ quốc gia ở Syria.

    Ở Ai Cập, nhiều địa điểm được tự hào mang tên ngày 6-10 và ngày thứ 10 tháng Ramadan tương đương theo lịch Hồi giáo. Một số ví dụ là cây cầu 6-10 ở Cairo và thành phố 6-10 và thành phố ngày thứ 10 tháng Ramadan (6th of October City và 10th of Ramadan City).

     PLO & Fatah khước từ tiến hành chiến tranh khủng bố ( chương 27 )


    Là con trai một gia đình thương nhân giàu có, cậu bé Mohammed Yasser Abdul-Ra'ouf Qudwa Al-Husseini hay còn gọi là Arafat không có chút biểu lộ nào cho thấy cậu có năng khiếu kinh doanh. Năm 1952, Arafat lúc ấy là một sinh viên của ĐH Cairo và đứng đầu Liên đoàn Sinh viên Palestine. Năm 1958, ông chuyển sang Kuwait và thảo luận với các đồng chí ý tưởng sáng lập nhóm Al Fatah, Phong trào giải phóng nhân dân Palestine. Sau đó ông trở về "Palestine" và chính thức thành lập Fatah ngày 1-1-1965.


    Năm 1969, Arafat được bầu làm chủ tịch Ủy ban điều hành Tổ chức Giải phóng Palestine (PLO)

    Năm 1969, ông được bầu làm chủ tịch Ủy ban điều hành Tổ chức Giải phóng Palestine (PLO) và giữ chức vụ này tới ngày qua đời (2004).

    Những năm 1970 được cho là thời kỳ lãnh tụ Arafat chuyển từ quan điểm cứng rắn, không khoan nhượng sang thái độ ôn hòa hơn trong cuộc đối đầu với Israel và các vấn đề Trung Đông.

    Việc sử dụng chiến thuật khủng bố trong cuộc chiến giành độc lập cho Palestine đã được PLO chính thức xét lại năm 1973. Từ lúc đó PLO và Fatah khước từ tiến hành chiến tranh khủng bố, và điều này trở thành nguyên nhân gây chia rẽ phong trào kháng chiến Palestine. Tổ chức giải phóng Palestine đã công khai "đại diện hợp pháp duy nhất của của người dân Palestine" và đã thừa nhận đầy đủ tư cách thành viên của các nước Ả-rập trong hội nghị thượng đỉnh Rabat.


    Năm 1974, ông Arafat phát biểu trước Đại hội đồng Liên hiệp quốc về việc PLO và Fatah khước từ tiến hành chiến tranh khủng bố, từ bỏ chiến thuật cực đoan

    Nhưng cũng chính sự từ bỏ chiến thuật cực đoan đã đưa Arafat lên phát biểu trên diễn đàn của Đại hội đồng Liên Hiệp Quốc năm 1974. Arafat đã trở thành người đại diện đầu tiên của một tổ chức phi chính phủ phát biểu tại một hội nghị thường niên của Đại Hội đồng Liên Hiệp Quốc. Arafat cũng là nhà lãnh đạo đầu tiên phát biểu ở LHQ trong khi vẫn đeo bao súng, mặc dù không đựng khẩu súng nào. Trong bài diễn văn dành cho LHQ của mình, Arafat đã lên án chủ nghĩa phục quốc Do thái (Zionism), nhưng ông cũng nhấn mạnh những câu bất hủ khiến cả đại hội đồng đứng dậy vỗ tay:

    "Hôm nay tôi đến đây
    Với những nhành ôliu, tượng trưng cho hòa bình
    Và khẩu súng tượng trưng cho cuộc đấu tranh giành tự do
    Xin đừng để những nhành ôliu rời khỏi tay tôi!".

    Nguồn: http://www.bacbaphi.com.vn

     

     


    Nhắn tin cho tác giả
    Phạm Minh Tuấn @ 01:38 14/01/2011
    Số lượt xem: 453
    Số lượt thích: 0 người
     
    Gửi ý kiến

    Tin tức tổng hợp

    Kiểm tra code

    (Sẽ không hiển thị nếu code bị lỗi.)

    Ninh Hòa quê hương tôi

    Ơi con sông Dinh

    CÁM ƠN QUÝ VỊ ĐẾN VỚI BLOG TƯ LIỆU LỊCH SỬ VIỆT NAM, CHÚC QUÝ VỊ CÓ NHỮNG PHÚT GIÂY VUI VẺ VÀ THOẢI MÁI!