Mấy giờ rồi nhỉ?

cà phê nhé!

Tài nguyên dạy học

Thành viên trực tuyến

2 khách và 0 thành viên

Thống kê

  • truy cập   (chi tiết)
    trong hôm nay
  • lượt xem
    trong hôm nay
  • thành viên
  • Hôm nay ngày mấy nhỉ?

    Ngày này năm xưa

    Bộ GD&ĐT

    Lời hay, ý đẹp

    Báo Mới đây!

    Hỗ trợ trực tuyến

    • (pmtuan69td)

    Điều tra ý kiến

    Bạn thấy trang này như thế nào?
    Đẹp
    Đơn điệu
    Bình thường
    Ý kiến khác

    Ảnh ngẫu nhiên

    TRAT_TU_HAI_CUC.jpg Phan_chia_pham_vi_anh_huong_sau_chien_tranh_the_gioi_thu_hai.jpg Nhung_canh_quan_tien_vao_Sai_gon_.jpg Nguon_loi_cua_tu_ban_Phap_o_Viet_Nam_trong_cuoc_khai_thac_lan_thu_hai.jpg Mien_Bac_XHCN__19651968.jpg Luoc_do_Van_Tuong_8__1965.jpg Luoc_do_phong_trao_Dong_Khoi.jpg Luoc_do_nuoc_Duc_.png Luoc_do_nuoc_CHND_Trung_Hoa_sau_ngay_thanh_lap.jpg Luoc_do_Nhat_Ban_sau_Chien_tranh_the_gioi_thu_hai.jpg Luoc_do_Lien_bang_Nga.jpg Luoc_do_khu_vuc_Mi_Latinh_sau_nam_1945.jpg Luoc_do_khoi_nghia_Yen_Bai_1930.jpg Luoc_do_hanh_trinh_cuu_nuoc_cua_Chu_Tich_Ho_Chi_Minh_19111941.jpg Luoc_do_Dong_Duong_nam_1954.jpg Luoc_do_CM_T8_1945.jpg Luoc_do_chien_dich_Viet_Bac_thu__dong_19471.jpg Luoc_do_chien_dich_Thuong_Lao.jpg Luoc_do_chien_dich_Tay_Nguyen.jpg Luoc_do_chien_dich_Hue__Da_Nang.jpg

    Sắp xếp dữ liệu

    Truyện cười

    ĐỪNG HÒNG QUAY BÀI NHÉ!

    BÁCH KHOA TOÀN THƯ

    Mừng ngày Nhà giáo Việt Nam

    Gốc > Giai thoại Việt sử > 69 giai thoại thể kỷ XVII >

    LỜI CHÚ CUỐI SÁCH

    Thể theo tiền lệ đã có ở các tập trước, chúng tôi cố gắng giới thiệu thêm mấy lời chú ngắn gọn này với ý định cụ thể và khiêm nhượng là tạo thêm điều kiện thuận lợi cho bạn đọc trẻ làm quen với các khái niệm cổ, nay ít dùng. Ở ngay phía sau các khái niệm và những từ cần chú thà số thứ tự của các giai thoại đặt trong dấu ngoặc đơn. Chúng tôi xin một lần nữa, lưu ý bạn đọc rằng, lời chú dưới đây chỉ đúng với tập sách này mà thôi.

    A BẢO TÍN THẦN (51): Kẻ bề tôi tin cậy giữ việc nuôi dưỡng vua (hoặc chúa) lúc thiếu thời.

    AN NAM THƯỢNG VƯƠNG (24): Tước Vương cao nhất, sau tước Quốc Vương. Đây là tước tiếm của Trịnh Giang.

    ÁN SÁT SỨ SƠN NAM (38): Người giữ chức Án sát ở Sơn Nam. Theo thể chế lúc này thì Án sát là chức lớn thứ ba trong bộ máy chính quyền địa phương cấp Trấn (cấp địa phương lớn nhất).

    AO CHẰM (40): Từ gần nghĩa với ao hồ, ao đầm.

    BÁC ĐẠT MẬU HÒA TUY DU DỤ NGHĨA TRỊNH VƯƠNG (24): Tước Vương của chúa Trịnh (Đây là Trịnh Giang), hiệu là Bác Đạt Mậu Hòa Tuy Du Dụ Nghĩa.

    BÀI THANH PHỤC MINH (19): Bài trừ nhà Thanh, phục hồi nhà Minh. Tên của một phong trào lớn do các cựu thần nhà Minh lãnh đạo nhằm lật đổ nhà Thanh, khôi phục lại nhà Minh nhưng bị nhà Thanh đàn áp và thất bại hoàn toàn.

    BẢO PHÓ (16): Chức của viên quan lo việc giúp đỡ Thế tử tập sự làm việc nước, chuẩn bị để về sau có thể dễ dàng nối ngôi chúa.

    BẮC BỐ CHÍNH (44): Tên đất. Châu Bố Chính ở Quảng Bình. Sông Gianh chảy qua châu này. Phần ở phía Bắc sông Gianh của châu Bố Chính thì gọi là châu Bắc Bố Chính, phần phía Nam sông Gianh của châu Bố Chính thì gọi là châu Nam Bố Chính. Phần phía Bắc thuộc Đàng Ngoài, phần phía nam thuộc Đàng Trong

    BẮC HÀ (58): Phía Bắc sông Gianh thì gọi là bắc Hà. Tuy nhiên, do chỗ Bắc Bộ là trung tâm của Bắc Hà, nên đôi khi, khái niệm Bắc Hà cũng được dùng để chỉ vùng Bắc Bộ.

    BIÊN XƯỞNG (12): Tên đất. Đất này nay thuộc tỉnh Vân Nam của Trung Quốc.

    BINH BỘ HỮU THỊ LANG (06): Tên chức quan. Chức này đứng hàng thứ ba trong bộ Binh (sau chức Thượng thư và chức Tả thị lang của bộ này).

    BÌNH CHƯƠNG (61): Thời này, chức Bình chương chỉ là chức nhất thời, theo đó thì người giữ chức này được quyền dự bàn những việc lớn của nước nhà.

    BỘ HÌNH (08): Một trong sáu bộ của triều đình xưa, xét về vị trí, bộ Hình thường đứng ở hàng thứ 5, cho nên, quan Thượng thư bộ Lễ có thể bị giáng chức làm quan Thượng thư bộ Hình. Về chức năng, bộ Hình chuyên lo việc xét xử và ngục tụng.

    BỘ LẠI (08): Một trong sáu bộ của triều đình xưa, xét về vị trí, bộ Lại là một trong ba bộ lớn nhất (gồm bộ Lễ, bộ Hộ và bộ Lại). Về chức năng, bộ Lại chuyên lo việc tuyển dụng và đề bạt hoặc thăng giáng các quan, đề xuất những vấn đề về quan chế.

    BỘ LỄ (08): Một trong số sáu bộ của triều đình xưa. Cùng với bộ Hộ và bộ Lại, như đã nói ở trên, bộ Lễ là bộ lớn. Bộ này chuyên lo các việc về nghi thức lễ tân cho triều đình, định ra các quy phạm hoạt động cho các việc lễ của xã hội. Bộ Lễ cùng đảm trách việc tổ chức lễ xuất quân khi triều đình cần phải dụng binh.

    BỒI TỤNG (25): Chức quan lo giúp việc thường ngày cho chúa Trịnh, được giao cho người có khả năng điều phối hoạt động chung của triều đình và phủ chúa. Chức lo giúp việc thường ngày này gồm có Tham tụng (kể như Chánh) và Bồi tụng (kể như phó).

    CAI BẠ PHÓ ĐOÁN SỰ (31): Chức quan lo giúp các chúa Nguyễn về những việc như: lập sổ sách hộ khẩu và dân đinh, chế độ thuế khóa và phu dịch… v.v. Tên chức quan này không có ở Đàng Ngoài.

    CAI ĐỘI (31): Chức của Võ quan bậc trung của Đàng Trong. Người giữ chức này được cầm đầu một đội quân, nếu biên chế đầy đủ thì khoảng 500 người.

    CÀN KHÔN BĨ RỒI LẠI THÁI, NHẬT NGUYỆT HỐI RỒI LẠI MINH (69): Câu của Nguyễn Trãi trong Bình Ngô đại cáo, nghĩa là trời đất chuyển vận, hết vận xấu đến vận tốt, Mặt Trời và Mặt Trăng hết lúc mờ tối thì đến lúc sáng tỏ.

    CẢNH DUƠNG (35): Tên xã. Xã này nay thuộc tỉnh Bình Thuận.

    CẨN ÁN (03): Cung kính xét bàn.

    CẤP SỰ TRUNG (48): Tên chức quan. Quan Cấp sự trung làm việc ở các Khoa (là cơ quan trực thuộc bộ, mỗi bộ có một khoa mang tên của bộ mình, như Lễ Khoa, Hộ Khoa, Hình Khoa…). Các quan giữ chức này thường có hàm Tòng lục phẩm hoặc Chánh thất phẩm.

    CẬP ĐỆ VÀ XUẤT THÂN (21): Thứ bậc của những người đỗ Tiến sĩ. Tiến sĩ Cập đệ là Tiến sĩ đỗ ở hàng Đệ nhất giáp. Tiến sĩ Xuất thân là Tiến sĩ đỗ ở hàng Đệ nhị giáp.

    CU KÊ (44): Tên chức quan văn của chúa Nguyễn ở Đàng Trong. Chức này thuộc hàng bậc trung.

    CỐNG SĨ (09): Cũng tức là Hương cống, dân thường gọi là ông Cống. Đây

    CỐ MỆNH (51): Di chúc của vua hoặc chúa.

    CƠ TRUNG TƯỢNG (45): Cơ binh Có tên là Trung Tượng. Cơ là đơn vị quân đội, mỗi cơ thường có nhiều đội, mỗi đội nếu biên chế đầy đủ thì gồm khoảng 500 người.

    CỬ SỰ (89): Bắt đầu vào việc, tương tự như khởi sự.

    CHÂN LẠP (19): Tên vương quốc của người Khmer. Trải nhiều biến cố, vương quốc này bị thu hẹp, vùng còn lại là Campuchia ngày nay.

    CHIÊM HẬU (31): Tên quan chức bậc trung, thuộc ban văn của các chúa Nguyễn.

    CHIÊU DỤ SỨ (62): Tên chức việc nhất thời của quan. Chức việc này lo việc vỗ yên dân hoặc lôi kéo đối phương về với triều đình.

    CHÍNH DINH (31): Dinh là đơn vị hành chánh địa phương lớn nhất của Đàng Trong. Chính Dinh là dinh có đặt phủ chúa.

    CHỮ MỆ (31): Mệ tức là mẹ. Chúa Nguyễn bắt gọi con gái là con trai và con trai là con gái, cho nên, quí tộc họ Nguyễn đường đường là đàn ông, nhưng lại tự xưng là mệ.

    CHƯỞNG CƠ (01): Chức võ quan cao cấp của chúa Nguyễn ở Đàng Trong. Chưởng cơ chỉ huy một cơ binh.

    CHƯỞNG DINH (31, 45): Chức võ quan cao cấp của Đàng Trong. Xứ Đàng Trong có 5 dinh, mỗi Dinh thường có từ một đến nhiều cơ quân. Đứng đầu Dinh là chức Chưởng dinh.

    CHƯỞNG PHỦ (61): Chức võ quan cao cấp. Người giữ chức này thực sự nắm quyền điều khiển một trong số năm quân (Tiền, Hậu, Tả, Hữu và Trung quân).

    CHƯỞNG THỦY CƠ (45): Đứng đầu một cơ thủy quân.

    ĐẤT QUAN TRUNG (04): Tên đất ở Trung Quốc.

    ĐỆ NHẤT GIÁP ĐỆ NHẤT DANH (21): Tức Trạng nguyên - Học vị cao nhất của hệ thống thi cử Nho học thuở xưa.

    ĐIỆN ĐÔ VƯƠNG (53): Tước Vương, hiệu là Điện Đô. Đây chỉ tước vị của Trịnh Cán.

    ĐÌNH ÚY (2): Tên quan chức. Chức này thường lo việc xét hỏi tội phạm ở triều đình.

    ĐÔ ĐỐC (19): Chức võ quan cao cấp. Nhưng khác với Đàng Ngoài, chức Đô đốc của Đàng Trong kiêm luôn cả các việc dân sự của địa phương.

    ĐÔ ĐỐC ĐỒNG TRI (14): Cũng tương tự như Phó Đô đốc. Chức của xứ Đàng Trong, có khác chút ít so với Đàng Ngoài.

    ĐÔ TRI (31): Tên cơ quan. Ở xứ Đàng Trong, Đô Tri là cơ quan lo việc xét xử, án kiện và ngục tụng, nghĩa là làm công việc của bộ Hình.

    ĐÔ TI (69): Tên cơ quan. Theo quan chế của Trung Quốc và của Đàng Ngoài, Đô Ti là cơ quan trông coi về quân sự ở địa phương.

    ĐỐC ĐỒNG (41): Tên quan chức thuộc ban văn ở địa phương cấp trấn (là cấp địa phương lớn nhất thời Lê mạt). Đứng đầu trấn là chức Trấn thủ, sau đó là chức Đốc đồng (cũng kể như chức phó của trấn). Chức này lo việc xét xử án kiện.

    ĐỘI QUÂN TIỆP BẢO (52): Tên đội quân có tên là Tiệp Bảo. Đây là một trong nhưng đội quân thường trực của triều đình vua Lê, chúa Trịnh.

    ĐÔNG CÁC HIỆU THƯ (22): Tên chức quan thuộc ban văn. Chức này lo giúp việc ở điện Đông Các, thường có hàm Chánh lục phẩm.

    ĐÔNG QUÂN HỮU ĐÔ ĐỐC THỰ PHỦ (61): Tên chức quan thuộc ban võ. Đông quân cũng tức Hữu quân là một trong Ngũ quân của triều đình. Hữu Đô đốc cũng tức là Phó Đô đốc. Thự phủ là quyền (chớ chưa phải thực thụ, nghĩa là chưa được chính thức phong).

    ĐỒNG BÌNH CHUƠNG SỰ, KIÊM THAM TRI CHÍNH SỰ VÀ THAM TỤNG (61): Đồng bình chương sự và Tham tụng lúc này thực ra cũng chỉ là một, nhưng Đồng bình chương sự là vinh hiệu ban tặng thêm còn Tham tụng thì cũng kể như Tể tướng. Tham tri chính sự là chức quan được dự bàn các việc lớn của nước nhà.

    GIA ĐỊNH (40): Tên đất. Ban đầu, đây là tên của vùng đất trên đại thể, tương ứng với miền Đông Nam Bộ ngày nay. Đầu thế kỉ thứ XVIII, tên đất này dùng để chỉ chung vùng Nam Bộ. Về sau tên đất này còn được dùng để chỉ nhiều phạm vi địa lí khác nữa. Trong giai thoại số 40 này, Gia Định là tên đất chỉ chung toàn bộ vùng Nam Bộ ngày nay.

    GẤM ĐOẠN (31): Gấm và đoạn đều là hàng dệt bằng tơ tằm, nhưng gấm thường có hình hoa lá còn đoạn thì thường là trơn.

    HÀ NỘI (04): Tên đất. Đất này thuộc Trung Quốc, không phải là Hà Nội của ta.

    HÀN LÂM (43): Tên cơ quan, cũng là tên chức quan. Triều đình xưa có cơ quan gọi là Hàn Lâm Viện, chuyên lo khởi thảo các văn kiện của nhà nước. các quan làm việc ở Hàn Lâm viện thường được gọi chung là quan Hàn Lâm.

    HÀN LÂM VIỆN BIÊN TU (0): Quan Biên tu, làm việc ở Hàn Lâm Viện. Đây là Hàn Lâm Viện của triều Mãn Thanh, chưa rõ chức Biên tu này chuyên lo việc gì. Nếu ở ta thì chức Biên tu lo việc đọc lại lần cuối các văn kiện của Nhà nước do Hàn Lâm Viện khởi thảo.

    HÀO BA QUẺ KHÔN (29): Số vạch trong mỗi quẻ của Kinh Dịch gọi là hào. Khôn là một trong số tán quẻ của Kinh Dịch, quẻ này tượng trưng cho đất.

    HÀO BỐN QUẺ KIỀN (29): Kiền là một trong số tán quẻ của Kinh Dịch, quẻ này tượng trưng cho trời. (Xem thêm Hào ba quẻ Khôn).

    HIẾN SÁT TI (03): Tên của một trong số ba cơ quan cấp trấn (cấp địa phương lớn nhất lúc này): Thừa Ti (tức Thừa Chính Ti), Đô Ti (tức Đô Sát Ti) và Hiến Ti (tức Hiến Sát Ti). Cơ quan Hiến sát Ti chuyên trông coi về hoạt đọng tư pháp ở trấn (gồm xét xử, ngục tụng…).

    HIỆP TÁN CÔNG THẦN, ĐẶC TIẾN CHƯỞNG DINH (01): Người được liệt vào hạng công thần (đây chỉ công thần của họ Nguyễn), được đặc biệt tưởng thưởng mà truy phong cho chức Chưởng dinh. Khi sống, chức cao nhất của Nguyễn Hữu Cảnh là Chưởng cơ, chức này nhỏ hơn chức Chưởng dinh, nên khi mất, ông được truy phong lên chức hàm này.

    HIỆU THẢO (02): Tên chức quan làm việc ở Hàn Lâm Viện, chức này thường dùng những người có hàm Tòng thất phẩm.

    HIỆU THƯ (30): Tên chức quan làm việc ở tòa Đông Các, chức này thường dùng những người có hàm Chánh lục phẩm.

    HOÀN KHUÊ (29): Cái hốt làm bằng ngọc khuê (ngọc khuê là tên của một loại ngọc quý). Các quan có tước Công; mỗi khi vào chầu vua thì tay cầm cái hốt bằng ngọc khuê. Phận hoàn khuê là phận của người chỉ có tước Công. Đâý nói Nguyễn Phúc Khoát không nên dừng lại ở tước Công mà phải tự xưng Vương tước.

    HÓA VẬT (35): Những vật có thể đem ra mua bán được.

    HOÀNG ĐẠO (29): tức quỹ đạo Mặt trời. Người xưa quy định rằng hoàng đạo là một vòng tròn gồm 12 cung (hay 12 tinh quân) và Mặt Trời thì xoay mãi trên vòng tròn ấy.

    HOÀNG MAI (54): Tên đường. Đường này nay thuộc địa phận huyện Quỳnh Lưu tỉnh Nghệ An.

    HỘ BỘ TẢ THỊ LANG (09): Chức quan đứng hàng thứ hai của bộ Hộ. Chức này đứng sau chức Thượng thư và trên chức Hữu thị lang.

    HÔN ĐỨC CÔNG (15): Người có tước Công mà đức độ tối tăm. Đối với Lê Đế Duy Phường, người làm vua từ năm 1729 đến năm 1732, đây là một cuộc truất phế.

    HUẤN ĐẠO (31): Quan trông coi về giáo dục ở địa phương.

    HUYỆN ĐÔNG QUAN (13): Tên đất, đất này nay thuộc Hà Nội.

    HUYỀN ĐIỂU (29): Nghĩa đen là chim yến. Truyền thuyết của Trung Quốc kể rằng, xưa, có người đàn bà Trung Quốc tên là Giản Địch, nhờ nuốt được trứng của chim yến mà mang thai, sau, con bà là người khai sáng ra nhà Thương (cũng gọi là nhà n) của Trung Quốc.

    HỮU ĐIẾM (61): Tên một trong những nơi làm việc của các quan ở cung vua Lê.

    HỮU TƯ GIẢNG (48): Tên chức quan chuyên lo việc giảng học cho Thế tử (người sẽ nối nghiệp chúa). Chức này thường trao cho h

    HỮU THỊ LANG BỘ LẠI (32): Chức quan đứng hàng thứ ba của bộ Lại (sau quan Thượng thư và quan Tả Thị lang).

    HỮU THAM QUÂN (47): Tên chức quan giúp việc cho quan Trấn thủ. Chức này gồm Tả và Hữu, theo đó thì Hữu tham quân là chức đứng hàng thứ ba ở trấn, sau chức Trấn thủ và chức Tả Tham quân.

    HƯƠNG CỐNG (09): Cũng tức là Cống sĩ, dân gian gọi là Ông Cống. Hương cống hay Cống sĩ là tên học vị, thời Nguyễn học vị này đổi gọi là Cử nhân.

    KINH LŨ (13): Tên xã. Xã này nay thuộc đất Hà Nội.

    KÍ LỤC (31, 44): Tên chức quan của Đàng Trong. Chức này lo các việc tuyển dụng quan lại, đề đạt việc thăng hoặc giáng chức của các quan… đại để, làm những việc thuộc chức trách của bộ Lại.

    KHO THƯỜNG BÌNH (40): Kho trữ lương thực để giữ giá. Cách lập kho thường bình vốn có từ đời Hán (Trung Quốc), theo đó thì ngày mùa, lương thực nhiều và rẻ, nhà nước mua lương thực tích trữ, đến ngày giáp hạt, lương thực ít và mắc, nhà nước lấy lương thực trong kho thường bình đem bán cho dân với giá rẻ, cốt cho dân được nhờ.

    KHOÁN UỚC (52): Ước hẹn với nhau. Tờ khoán ước là tờ ghi lời ước hẹn với nhau để các bên ước hẹn lấy đó làm bằng cớ. Đối với những người dốc lòng phò vua giúp nước thì tờ khoán ước nhà vua làm với họ, có giá trị như bảng ghi công, tên tuổi những người ấy sẽ được ghi vào sử sách.

    KHUYNH LOÁT (45): Dùng quyền thế và sức mạnh để làm nghiêng đổ kẻ khác.

    LẠI PHIÊN (59cơ quan. Cơ quan này trực thuộc bộ Lại.

    LỄ PHIÊN (05): Tên cơ quan. Cơ quan này trực thuộc bộ Lễ.

    LONG HỒ (40): Tên đất. Đất này nay thuộc tỉnh Vĩnh Long.

    LỘ QUẢNG OAI (66): Nguyên bản viết là lộ Quảng, chúng tôi thêm chữ Oai vào cho đầy đủ. Quảng Oai là tên đất. Đất này nay thuộc Hà Tây.

    LỘ QUỐC (OAI) (66): Nguyên bản viết là lộ Quốc, chúng tôi thêm chữ Oai vào cho đầy đủ. Quốc Oai là tên đất. Đất này nay thuộc Hà Tây.

    LỜI CẨN ÁN (03): Lời cung kính xét bàn.

    MÃNG BÀO (31): Trang phục may bằng loại vải ở trên có hoa văn lốm đốm như hình da trăn.

    NAM BỐ CHÍNH (44): Tên đất. Đất này thuộc Đàng Trong. Châu Nam Bố Chính nằm sát bờ Nam của sông Gianh (Quảng Bình).

    NỘI CÁC ĐIỂN BẠ (06): Tên chức quan của triều đình Mãn Thanh, chưa rõ đảm nhiệm công việc cụ thể gì.

    NỘI CÁC HỌC SĨ (12): Tên chức quan của nhà Mãn Thanh, chưa rõ là đảm nhiệm công việc cụ thể gì.

    NỘI GIÁM THIẾU BẢO (09): Hoạn quan, hàm Thiếu Bảo, làm việc trong phủ chúa.

    NỘI HỮU (45): Chức võ quan, làm công việc tương tự như cố vấn quân sự cho chúa Nguyễn.

    NHA ÚY (31): Tên cơ quan trông coi về việc lễ, tương tự như bộ Lễ. Cơ quan này về sau cũng được chúa Nguyễn đổi gọi là Lễ Bộ.

    NHÀ TẢ XUYÊN (52): Tên một trong những ngôi nhà của phủ chúa.

    NHANH NHƯ HEO BỊ LANG ĐUỔI (45): Ý nói rất nhanh

    NHƯ CÁCH NGƯỜI TẦN XỬ VỚI NGƯỜI VIỆT (13): Tích lấy từ sử Trung Quốc, đại ý nói rằng dửng dưng, bỏ mặc.

    NGOẠI THÍCH (62): Thân thích bên họ ngoại.

    NGỰ LỘC (45): Tương tự như lương bổng lúc đang tại chức.

    NGUỒN ĐỒNG HƯƠNG (45): Tên mỏ vàng ở Quảng Nam.

    NGUỒN THU BỒN (45): Tên mỏ vàng ở Quảng Nam.

    NGUỒN TRÀ SƠN (45): Tên mỏ vàng ở Quảng Nam.

    NGUỒN TRÀ VÂN (45): Tên mỏ vàng ở Quảng Nam.

    NGỤY CHỨC (40): Chức tước của giặc. Đây chức tước của Tây Sơn.

    NGUYÊN SOÁI PHÙ CHÍNH DỰC VẬN UY QUỐC CÔNG (60): Vị nguyên soái có công giúp đỡ chính sự và vận hội của đất nước, tước Quốc công, hiệu là Uy (tước Quốc công mà hiệu một chữ là tước Công lớn nhất).

    NGUYỄN VĂN HUỆ (58): tức Nguyễn Huệ. Ông còn có tên là Thơm và tên khác nữa là Bình. Khi lên ngôi Hoàng đế, Nguyễn Huệ lấy niên hiệu là Quang Trung.

    NGUYỄN THÁI PHI (52): Bà Thái phi họ Nguyễn. Trong sử cũ, Nguyễn Thái phi còn được chép là Trịnh Thái phi (bà Thái phi của chúa Trịnh), lại cũng có khi được chép là Trịnh Thái phi Nguyễn Thị (bà Thái phi của chúa Trịnh, người gốc họ Nguyễn)

    NGỰ SỬ (08): Tên cơ quan, cũng là tên chức quan. Các quan Ngự sứ làm việc ở Ngự Sử Đài, chuyên lo can gián nhà vua và hặc tội bá quan văn võ. Quan Ngự sử cũng có khi gọi là Ngôn quan.

    NGỰ SỬ ĐÀI (08): Tên cơ quan. (Xem thêm Ngự sử).

    ỐC NHA (19): Từ phiên âm tên chức quan văn của Chân Lạp, chưa rõ nhiệm vụ cụ thể của chức quan này là gì, chỉ biết ốc nha thuộc hàng quan bậc trung.

    PHÁ TAM GIANG (43): Đầm nước mặn ở sát biển, chỉ thông với biển bằng một ngòi nước nhỏ gọi là phá. Phá Tam Giang ở địa đầu xứ Đàng Trong, nay đã bị lấp.

    PHIÊN MỤC (56): Chức quan ở nơi biên ải.

    PHIÊN TRẤN (40): Trấn tiếp giáp với nước phiên thuộc, trấn ở cõi xa. Đàng Trong có đến mấy Phiên trấn khác nhau, nhưng Phiên trấn nói đến ở đây là Phiên trấn cuối cùng, bao gồm vùng tương ứng với thành phố Hồ chí Minh, Tây Ninh và một phần nhỏ của Long An ngày nay. Tên gọi Phiên trấn cuối cùng này tồn tại mãi cho đến năm 1832. Truyện "Việt Sử Giai Thoại " được copy từ diễn đàn Lương Sơn Bạc (LuongSonBac.com)

    PHÓ ĐÔ NGỰ SỬ (05): Tên chức quan. Chức này đứng hàng thứ hai trong số bốn vị quan trụ cột của Ngự Sử Đài, đó là: Đô Ngự sử, Phó Đô ngự sử, Thiêm Đô ngự sử và Đô Ngự sử Đại phu.

    PHỤ CHẤP (48): Bạn của cha.

    PHỦ VIỆT (01): Phủ là cái rìu, việt là cái búa, nhưng quân đội thuở xưa vẫn dùng một thứ vũ khí đánh gắn, nửa giống rìu, nửa giống búa, và được gọi với cái tên ghép là phủ việt.

    PHỤNG THIÊN PHỦ DOÃN (06): Chức quan đứng đầu địa phương c đặt kinh đô của triều đình. Lúc này, phủ Phụng Thiên là khu vực gần tương ứng với Hà Nội ngày nay.

    PHƯƠNG THÀNH (19): Thành hình vuông. Từ lâu, Phương Thành đã trở thành tên riêng.

    QUAN CHIÊM (06): Nhìn với vẻ ngưỡng mộ (nghĩa trong câu).

    QUẢN LẠI (52): chức võ quan bậc thấp của Đàng Ngoài, chuyên lo các việc hậu cần của một trong số các đội quân thường trực ở kinh thành Thăng Long.

    QUẢN LÃNH (54): Chức võ quan bậc trung của Đàng Ngoài chuyên lo các việc tương tự như sĩ quan tham mưu ngày nay.

    QUN PHỤ (48): Bậc vua chúa, kể cũng như cha. Đây quân phụ là từ dùng để chỉ Trịnh Khải. Tuy nhiên, Trịnh Khải chỉ bị giam cầm chớ không bị giết, sau, Trịnh Khải còn làm chúa đến 4 năm (1782 - 1786). Cho nên, nói sát tứ phụ là hoàn toàn không đúng.

    QUÂN TAM PHỦ (55): Quân Thanh - Nghệ. Lúc này, triều đình vua Lê - chúa Trịnh chia Thanh Hoa (bấy giờ gọi là Thanh Hoa, thời Nguyễn mới đối là Thanh Hóa) làm hai phủ là Tĩnh Gia và Hà Trung, còn Nghệ An chỉ có một phủ, đó là phủ Anh Đô (thời Nguyễn đổi là Anh Sơn). Lính ba phủ này được chúa Trịnh đặc biệt ưu đãi. Về sau, chính họ là kiêu binh, làm nhiều điều rất đáng trách.

    QUẬN CÔNG (10): Tên tước vị. Tước Quận công thấp hơn tước Quốc công nhưng cao hơn các tước vị khác như Hầu, Bá, Tử và Nam.

    QUẬN QUÂN (15): Tên tước vị của phụ nữ. Tước này không có trong hệ thống tước vị chính thức. Bấy giờ, Lê Đế Duy Phường bị phế truất nên thân mẫu của Lê Đế Duy Phường (tức bà Thái hậu người họ Trịnh) cũng bị phế làm Quận quân (thấp hơn tất cả các bà hoàng khác

    QUYỀN PHỦ (61): Người được trao quyền (chứ chưa được chính thức trao chức) đứng đầu một trong ngũ quân của triều đình (gồm Tiền quân, Hậu quân, Tả quân, Hữu quân và Trung quân). Người được trao Quyền phủ có quyền như Đô đốc. Theo quan chế hàng võ của thời kì này thì đứng đầu các quân có: Đô đốc (tức Chưởng phù), Phó Đô đốc (tức Thự phủ) và quyền như Đô đốc (tức Quyền phủ).

    QUỲNH LƯU (54): Tên một huyện ở Nghệ An.

    SÀI MẠT (19): Tên phủ, trong phủ này còn có châu cũng mang tên là Sài Mạt. Phủ Sài Mạt có đất đai đại để tương ứng với vùng Kiên Giang, Minh Hải và một phần đất Campuchia. Châu Sài Mạt của phủ Sài Mạt nay thuộc Campuchia.

    SẮC SÁCH PHONG (51): Tờ sắc dụ của nhà vua về việc sách phong. Vua phong cho bậc trên mình (như cha ông…) gọi là tôn phong, phong cho người đã khuất gọi là truy phong… Với các Hậu, Phi và các bà hoàng nói chung, việc phong tước hiệu được ghi vào một bộ hồ sơ riêng, gọi là sách.

    SÔNG ĐỔ CHÚ (12): Tên sông. Sông này xưa thuộc Tuyên Quang, nay thuộc Trung Quốc.

    SÔNG THÚY ÁI (58): Cũng là tên một bến đò nổi tiếng ở huyện Thanh Trì, ngọai thành Hà Nội.

    SƠN NAM (54): Tên đất. Trong giai thoại số 54 này, Sơn Nam gồm vùng Hà Nam, Nam Định và Ninh Bình.

    SƯ BẢO ĐẠI THẦN (51): Bậc đại thần là thầy của vua hoặc chúa. Ở đây Sư bảo Đại thần là Nguyễn Hoàn, thầy học của chúa Trịnh Sâm.

    TẢ ĐIẾM (61): Tên một trong những nơi làm việc của các quan ở trong cung

    TẢ ĐÔ NGỰ SỬ (12): Cũng tức là Đô ngự sử, chức quan đứng đầu cơ quan Ngự Sử Đài.

    TẢ THAM QUÂN (47):Chức võ quan giúp việc quân sự cho quan Trấn thủ. Dưới quan Trấn thủ có hai chức võ quan giúp việc quân sự là Tả Tham quân và Hữu Tham quân.

    TẢ THỊ LANG BỘ BINH (12): Chức quan đứng hàng thứ hai trong bộ Binh, sau chức Thượng thư bộ Binh và trên chức Hữu Thị lang bộ Binh.

    TẢ THỊ LANG BỘ LẠI (08): Chức quan đứng hàng thứ hai trong bộ Lại, sau chức Thượng thư bộ Lại và trên chức Hữu Thị lang bộ Lại.

    TẢ TƯ GIẢNG (48): Tên chức quan chuyên lo việc giảng học cho Thế tử (người sẽ nối nghiệp chúa sau này). Việc giảng học cho Thế tử thường trao cho ha người, một người gọi là Tả Tư giảng và một người gọi là Hữu Tư giảng.

    TẢ THIẾU GIÁM (28): Quan đứng đầu hàng hoạn quan.

    TAI DỊ (13): Tai biến khác thường.

    TÁN LÍ (30): Chức quan giúp việc cho quan Tổng binh khi có việc phải dụng binh. Tổng binh và Tán lí là chức vụ nhất thời, cấp bậc cụ thể của người giữ những chức này tùy thuộc vào số quân điều động và mức độ quan trọng của cuộc hành quân. Chức Tán lí phần nhiều trao cho quan văn. Truyện "Việt Sử Giai Thoại " được copy từ diễn đàn Lương Sơn Bạc (LuongSonBac.com)

    TÀO VỤ (45): Tên cơ quan của Đàng Trong, có nhiệm vụ cắt đặt mọi việc cho các cơ quan trực thuộc phủ chúa Nguyễn.

    TẾ TỬU (12): Quan giữ việc nghi lễ của triều đình.

    TIỀN BỘ QUÂN (59): Tướng chỉ huy lực lượng tiên phong của bộ binh

    TÒNG SỰ (47): Chức quan văn giúp việc cho quan Trấn thủ. Về vị trí quan Tòng sự đứng sau quan Tả Tham quân và Hữu Tham quân (là những võ quan giúp việc quân sự cho quan Trấn thủ).

    TỘI ĐỒ (08): Tội bị đi đày. Nặng thì đày xa, nhẹ bơn thì đày gần.

    TỘI THIỆN TIỆN (53): Tội tự ý làm việc hoặc phát ngôn không đúng với chức trách và thân phận của mình.

    TỔNG BINH (19): Chức của Đàng Trong, có khác với chức của Đàng Ngoài. Lúc này ở Đàng Trong, Tổng binh là chức đứng đầu một trấn.

    TỔNG BINH ĐỒNG TRI (30): Tức quan Phó Tổng binh. Chức quan võ của Đàng Ngoài.

    TỔNG TRẤN TƯỚNG QUÂN (29): Vị tướng quân đứng đầu các trấn (ở Đàng Trong). Đây là chức vụ khiêm xưng của chúa Nguyễn Phúc Khoát trước khi chính thức xưng vương.

    TUYÊN PHI CHÍNH CUNG (51): Hàng thứ hai của vợ vua cùng với hàng thứ nhất của vợ Chúa và vợ Thái tử thì gọi là Phi. Như vậy, Tuyên phi là bà Phi, hiệu là Tuyên. Chính cung là người đứng đầu hậu cung. Đây là tước vị của Đặng Thị Huệ, vợ Trịnh Sâm.

    TƯ ĐỒ (11): Hiệu gia phong thêm cho quan đại thần là người trong tôn thất. Đây là hiệu gia phong cho Trịnh Quán, người cùng họ với chúa Trịnh.

    TỨ PHẨM (10): Quan chế xưa chia quan lại làm chín phẩm trật, cao nhất là Nhất phẩm, thấp nhất là Cửu phẩm. Mỗi phẩm trật lại còn có hai bậc cao thấp là Chánh và Tòng. Như vậy, quan có hàm Tứ phẩm là quan thuộc hàng đại thần (4/9).

    TỬ VI (29): Tên một vì sao trên trời. Người xưa choi các ngôi sao cùng chầu về sao Tử Vi thì điềm lành lớn nhất định sẽ đến.

    THÁI PHI NGUYỄN THỊ (52, 55): Bà Thái phi, người họ Nguyễn. Đây là bà Thái phi của chúa Trịnh, chép đầy đủ phải là Trịnh Thái phi Nguyễn Thị. (Xem thêm: Nguyễn Thái phi)

    THÁI PHÓ QUỐC CÔNG (29): Hàm Thái phó, tước Quốc công. Thái phó là một trong Tam Thái (Thái sư, Thái bảo và Thái phó) - hàm đặc biệt gia phong cho một số đại thần trong hàng Nhất phẩm. Quốc công là bậc cao nhất của tước công. Đây là hàm và tước tự phong của chúa Nguyễn Phúc Khoát trong mấy năm đầu ở ngôi chúa.

    THÁI TỬ (27): Ngôi vị của người sẽ được nối ngôi vua. Ngôi vị này thường dành cho con trưởng của vua đang trị vì, nhưng trong thực tế cũng có khi dành cho em vua hoặc giả là cháu vua.

    THÁI THƯỜNG TỰ KHANH (13): Người đứng đầu một trong số sáu tự của triều đình. Theo quan chế xưa, tự là cơ quan trực thuộc bộ, mỗi bộ có một tự mang tên tương ứng với bộ mình. Quan Thái thường Tự khanh thường có hàm Chánh ngũ phẩm.

    THAM CHÍNH (13): Chức quan được dự bàn các việc lớn của nước nhà.

    THAM TỤNG (09, 10): Tương tự như Tể tướng, nhưng đây chỉ là quyền trao cho người có khả năng điều phối hoạt động chung của phủ chúa chứ không phải là chức. Phủ chúa Trịnh thường có hai quan là Tham tụng và Bồi tụng (thấp hơn Tham tụng một bậc) thay mặt chúa điều hành công việc chung.

    THAM TRI CHÍNH SỰ KIÊM BỒI TỤNG (61): Chức quan được quyền dự bàn những việc lớn của nước nhà, kiêm giữ quyền Bồi tụng (xem thêm: Tham tụng).
    Truyện "Việt Sử Giai Thoại " được copy từ diễn đàn Lương Sơn Bạc (LuongSonBac.com)
    THÂN QUÂN (31): Lực lượng quân đội làm nhiệm vụ bả vệ thường trực ở phủ chúa Nguyễn.

    THẾ TỬ (27): Ngôi vị của người sẽ được nối nghiệp chúa. Ngôi vị này thường được trao cho con trưởng của chúa đang nắm quyến, nhưng không hẳn là lúc nào cũng vậy.

    THỊ LANG (02): Chức quan sau chức Thượng thư của các bộ trong triều đình xưa. Chức Thị lang thường gồm có Tả Thị lang và Hữu Thị lang. Hữu Thi lang thấp hơn Tả Thị lang một bậc.

    THỊ PHÓ (29): Báo cho biết. Chữ chúa Nguyễn dùng khi bổ nhiệm quan lại.

    THIẾT ĐỘT (66): Tên đơn vị quân đội.

    THIÊM ĐÔ NGỰ SỬ (38): Chức quan đứng hàng thứ ba trong cơ quan Ngự Sử Đài, sau chức Đô ngư sử, Phó Đô ngự sử trên chức Đô ngự sử Đại phu.

    THIÊM SAI (53, 59): Chức quan mới đặt từ đời vua Lê Hy Tông (từ năm 1675 trở về sau), chức này chuyên lo xét lại các án kiện. Trước đó, công việc này thuộc Ngự Sử Đài, nhưng đến đây, vì án kiện quá nhiều nên mới đặt thêm chức quan chuyên trách này. Đến đầu đời Lê Chiêu Thống, chức Thiêm sai bị bãi bỏ.

    THIÊN TƯỚNG (58): Tên chức võ quan hạng trung, chức này chỉ có ở thời Lê mạt.

    THIẾU BẢO (09): Một trong Tam Thiếu (là Thiếu sư, Thiếu bảo và Thiếu phó). Từ thời Lý đến thời Lê sơ, Tam Thái và Tam Thiếu là hàm, cũng là chức, được ban cho các quan đầu triều. Thời Lê mạt, đây chỉ là hàm gia phong cho một số vị đại thần mà thôi.

    THIẾU PHÓ (11): Một trong Tam Thiếu. (Xem thêm: Thiếu bảo).

    THỔ TI (12): Các quan trông coi một địa phương nào đây chỉ chung các quan của nhà Thanh trông coi phủ Khai Hóa (ở Trung Quốc).

    THỐNG LÃNH (30): Chức võ quan đứng đầu lực lượng quân đội khi dụng binh, chức này cũng tương tự như chức Tổng binh. Quyền của quan Thống lãnh tùy thuộc vào quy mô và tính chất của cuộc dụng binh.

    THỐNG SOÁI (14): Chức võ quan của xứ Đàng Trong, chức này tương tự như chức Tổng binh, chức Thống lãnh hay chức Nguyên soái của Đàng Ngoài, nghĩa là chỉ đặt ra trong nhất thời. Quyền hạn của Thống soái lớn nhỏ tùy thuộc vào quy mô và tính chất của cuộc dụng binh.

    THỐNG SUẤT (01): Chức võ quan của Đàng Trong, tương tự như chức Thống soái.

    THỐNG TƯỚNG CHÁNH ĐẠO (28): Chức võ quan đứng đầu đạo chánh binh. Một trong những lối đánh thông dụng của quân dội xưa là chia quân làm hai đạo. Đạo thứ nhất là đạo chủ yếu, chuyên lo việc đánh trực diện vào đối phương, cốt để thu hút sự chú ý của đối phương. Đạo này gọi là chánh binh. Đạo thứ hai bí mật lén đánh úp ở phía sau, khiến cho đối phương trở tay không kịp. Đạo này gọi là kì binh. Chánh binh (hay chánh đạo) và kì binh (hay kì đạo) đều nằm dưới quyền chỉ huy của Nguyên soái (hay Tổng binh). Quyền hạn của quan Thống tướng Chánh đạo tùy thuộc vào quy mô và tính chất của cuộc dụng binh, lại còn tùy thuộc ở sự cho phép của Nguyên soái.

    THỦ BỊ (69): Chức quan của Trung Quốc, quyền trông coi một châu, nhưng chưa rõ trách nhiệm cụ thể như thế nào.

    THÚC PHỤ (51): Chú ruột.

    THUỘC HIỆU (22): Người trong cùng một hiệu quân, thuộc quyền chỉ huy của mình. Đây chỉ Lại Thế Tế là thuộc hiệu của Phạm Công Thế và Vũ Th

    THỰ PHỦ (61): Cũng tức là Phó Đô đốc, chức võ quan cao cấp của Đàng Ngoài, cùng với quan Chưởng phủ (tức Đô đốc) trông coi một trong số Ngũ quân (Tiền, Hậu, Tả, Hữu và Trung quân).

    THỪA CHÍNH TI (03): Tên cơ quan địa phương của Đàng Ngoài. Bấy giờ cấp trấn được chia thành Tam Ti, phụ trách ba khối công việc khác nhau. Thừa Chính Ti trông coi về hành chính và thuế khóa. Đô Ti trông coi về quân sự, Hiến Ti trông coi về tư pháp.

    THƯỢNG THƯ (08). Chức quan đứng đầu một bộ của triều đình.

    TRẤN THỦ (05): Chức quan đứng đầu một trấn. Trấn là đơn vị địa phương cao nhất của Đàng Ngoài.

    TRI LẠI PHIÊN (53): Quan đứng đầu Lại Phiên. Lại Phiên là cơ quan trực thuộc bộ Lại.

    TRỊNH THÁI PHI (55): Bà Thái phi của chúa Trịnh. (Xem thêm Thái phi Nguyễn Thị hoặc Nguyễn Thái phi)

    TRỊNH THÁI PHI NGUYỄN THỊ (52): Tức Trịnh Thái phi đã nói trên.

    TRUNG QUÂN TẢ ĐÔ ĐỐC CHƯỞNG PHỦ (61): Chức võ quan của Đàng Ngoài, chức này đứng đầu phủ Trung quân (là một trong Ngũ quân).

    TRUNG SỨ (50): Chức quan nhất thời, làm nhiệm vụ chuyển đạt mệnh lệnh của vua hoặc chúa đến với ai đó.

    TRƯƠNG TẦN CỐI (45): Tên ác độc như Tần Cối, người họ Trương. Tần Cối là tên gian ngoan, lại cũng là tên phản thần của nhà Tống (Trung Quốc) kẻ đã bức hại trung thần của nhà Tống là Nhạc Phi. Trương Tần Cối ở đây ám chỉ Trương Phúc

    TRƯỜNG HƯƠNG (33): Trường thi Hương. Theo chế độ thi cử Nho học xưa, thi Hương và thi Hội là hai khoa thi chính, ngoài ra còn có khoa thi phụ, gọi là thi Đình hay thi Điện và một số khoa thi đặc biệt (như Minh Kinh, Hoành Từ…). Người đỗ chính thức ở trường Hương thì gọi là Hương cống, Cống sĩ (thời Nguyễn đổi gọi là Cử nhân), còn dân gian thì gọi là ông Cống. Người chỉ đỗ vớt thì gọi là Sinh đồ, thời Nguyễn đổi gọi là Tú tài. Trường Hương thường quy tụ sĩ tử của nhiều vùng, tương ứng với nhiều tỉnh hiện nay. Ví dụ: Nam Bộ chỉ có một trường Hương mà thôi.

    VĂN CHỨC (31): Chức quan văn của Đàng Trong, chuyên lo khởi thảo các công văn giấy tờ cho chúa Nguyễn, nghĩa là làm công việc tương tự như cơ quan Hàn Lâm Viện của Đàng Ngoài. Cũng vì lẽ đó mà chúa Nguyễn đã cho đổi Văn Chức là Hàn Lâm Viện.

    VỊ HOÀNG (60): Tên đất, cũng là tên sông, nay thuộc Nam Định.

    VIÊN NGOẠI LANG (52): Thời này, Viên Ngoại lang là chức dành cho người có hàm khá cao (Tòng lục phẩm) nhưng chỉ làm việc tạp vụ ở triều đình vua Lê, chúa Trịnh.

    VIN BÁM KHUÊ CỔN TÌNH THÂN (45): Cửa nhỏ trong cung thì gọi là khuê. Áo của nhà vua thì gọi là cổn. Vin bám khuê cổn tình thân là dựa dẫm vào sự thương yêu của vua chúa. Đây chỉ việc Trương Phúc Loan cậy thế được chúa Nguyễn ưu ái.

    XÃ HẠ LÔI, HUYỆN YÊN LÃNG (59): Tên đất, xưa thuộc Vĩnh Phú, nay thuộc ngoại thành Hà Nội.


    Nhắn tin cho tác giả
    Phạm Minh Tuấn @ 18:47 06/07/2012
    Số lượt xem: 336
    Số lượt thích: 0 người
     
    Gửi ý kiến

    Tin tức tổng hợp

    Kiểm tra code

    (Sẽ không hiển thị nếu code bị lỗi.)

    Ninh Hòa quê hương tôi

    Ơi con sông Dinh

    CÁM ƠN QUÝ VỊ ĐẾN VỚI BLOG TƯ LIỆU LỊCH SỬ VIỆT NAM, CHÚC QUÝ VỊ CÓ NHỮNG PHÚT GIÂY VUI VẺ VÀ THOẢI MÁI!