Mấy giờ rồi nhỉ?

cà phê nhé!

Tài nguyên dạy học

Thành viên trực tuyến

0 khách và 0 thành viên

Thống kê

  • truy cập   (chi tiết)
    trong hôm nay
  • lượt xem
    trong hôm nay
  • thành viên
  • Hôm nay ngày mấy nhỉ?

    Ngày này năm xưa

    Bộ GD&ĐT

    Lời hay, ý đẹp

    Báo Mới đây!

    Hỗ trợ trực tuyến

    • (pmtuan69td)

    Điều tra ý kiến

    Bạn thấy trang này như thế nào?
    Đẹp
    Đơn điệu
    Bình thường
    Ý kiến khác

    Ảnh ngẫu nhiên

    TRAT_TU_HAI_CUC.jpg Phan_chia_pham_vi_anh_huong_sau_chien_tranh_the_gioi_thu_hai.jpg Nhung_canh_quan_tien_vao_Sai_gon_.jpg Nguon_loi_cua_tu_ban_Phap_o_Viet_Nam_trong_cuoc_khai_thac_lan_thu_hai.jpg Mien_Bac_XHCN__19651968.jpg Luoc_do_Van_Tuong_8__1965.jpg Luoc_do_phong_trao_Dong_Khoi.jpg Luoc_do_nuoc_Duc_.png Luoc_do_nuoc_CHND_Trung_Hoa_sau_ngay_thanh_lap.jpg Luoc_do_Nhat_Ban_sau_Chien_tranh_the_gioi_thu_hai.jpg Luoc_do_Lien_bang_Nga.jpg Luoc_do_khu_vuc_Mi_Latinh_sau_nam_1945.jpg Luoc_do_khoi_nghia_Yen_Bai_1930.jpg Luoc_do_hanh_trinh_cuu_nuoc_cua_Chu_Tich_Ho_Chi_Minh_19111941.jpg Luoc_do_Dong_Duong_nam_1954.jpg Luoc_do_CM_T8_1945.jpg Luoc_do_chien_dich_Viet_Bac_thu__dong_19471.jpg Luoc_do_chien_dich_Thuong_Lao.jpg Luoc_do_chien_dich_Tay_Nguyen.jpg Luoc_do_chien_dich_Hue__Da_Nang.jpg

    Sắp xếp dữ liệu

    Truyện cười

    ĐỪNG HÒNG QUAY BÀI NHÉ!

    BÁCH KHOA TOÀN THƯ

    Mừng ngày Nhà giáo Việt Nam

    Gốc > Giai thoại Việt sử > 45 giai thoại thể kỷ XIX >

    LỜI CHÚ CUỐI SÁCH

    Để bạn đọc, nhất là bạn đọc trẻ, đỡ mất công tra cứu, chúng tôi viết thêm lời chú cuối sách này. Tất cả những từ hoặc những khái niệm nào xét thấy cần chú thích thì chúng tôi mới chú thích. Con số để trong dấu ngoặc đơn, để ngay bên cạnh các từ hoặc các khái niệm là số thứ tự của các giai thoại. Chúng tôi xin được lưu ý bạn đọc rằng, lời chú này chỉ đúng với tập này mà thôi.

    ÁN SÁT SỨ (30): Chức quan đứng hàng thứ ba trong số các quan đầu tỉnh, chuyên trông coi việc xét xứ án kiện và ngục tụng.

    BẮC THÀNH (07): Đơn vị hành chánh của nước ta thời Gia Long đến nửa sau đời Minh Mạng (từ năm 1802 đến năm 1832). Bấy giờ triều Nguyễn lập ra Bắc thành để cai quản các trấn thuộc Bắc Kì và Gia Định thành để cai quản các trấn thuộc Nam Kì. Đứng đầu Bắc thành là chức Bắc thành Tổng trấn, đứng đầu Gia Định thành là chức Gia Định Tổng trấn. Từ năm 1832, khi đơn vị cấp trấn bị bãi bỏ và thay vào đó là đơn vị cấp tỉnh, thì Bắc thành và Gia Định thành cũng không còn nữa.

    BIÊN TU (30): Chức quan lo việc biên chép sử sách, hàm khởi điểm thường là Chánh thất phẩm.

    BIÊN VỤ (34): Chức quan chuyên lo việc theo dõi tình hình ở biên giới. Đây chỉ là chức quan nhất thời, chỉ đặt ra khi biên giới có những vấn đề cần quan tâm mà thôi.

    BÌNH PHÚ TỔNG ĐỐC (18), (19): Tổng đốc là chức quan đứng đầu ngạch hành chính ở cấp tỉnh. Thường thì mỗi tỉnh có một quan Tổng đốc, nhưng cũng nhiều khi hai tỉnh hoặc ba tỉnh mới có một quan Tổng đốc. Ở đây, Bình là Bình Định. Phú là Phú Yên.

    BỞI LÒNG CHÚNG CHẲNG NGHE THIÊN TỬ CHIẾU, ĐÓN NGĂN MẤY DẶM MÃ TIỀN ; THEO BỤNG DÂN PHẢI CHỊU TƯỚNG QUÂN PHÙ, GÁNH VÁC MỘT VAI KHỔN NGOẠI (33): Câu trích từ Văn tế Trương Định của Nguyễn Đình Chiểu. Cả câu ý nói: Bởi vì nhân dân không chịu nghe theo chiếu chỉ của Vua (chỉ việc vua Tự Đức xuống chỉ dụ, bắt Trương Định phải bãi binh, không được đánh Pháp nữa), cho nên đã ra đứng, hàng ngũ dài đến mấy dặm, đón phía trước ngựa của Trương Định, ngăn ông không nên từ bỏ nghĩa binh (và ông đã ở lại). Vì theo nguyện vọng của dân mà Trương Định đã nhận tướng quân phù (tức là nhận tấm thẻ làm phù hiệu của tướng quân), lo gánh vác trách nhiệm coi giữ một vùng đất của vua. Câu này lấy ý từ một câu của sách Hán thư (Trung Quốc) như sau: Niết dĩ nội, quả nhân chế chi ; Niết dĩ ngoại tướng quân chế chi" nghĩa là từ ngạch cửa này trở vào thì quả nhân coi giữ, từ ngạch cửa này trở ra là tướng quân coi giữ.

    BỨC CỐC (09): Tên đất. Đất này nay thuộc tỉnh Bình Định.

    CAI CƠ (20): chức quan Võ bậc trung. Cai cơ thường được quyền chỉ huy một cơ binh, mỗi cơ binh, nếu gồm đủ thì có khoảng 500 quân. Truyện "Việt Sử Giai Thoại " được copy từ diễn đàn Lương Sơn Bạc (LuongSonBac.com)

    CAO MAN (29): Tức Cao Miên, nay là Campuchia.

    CẨM Y CHƯỞNG VỆ (10): Chức võ quan bậc trung, Cẩm y chỉ là mĩ từ được ban thêm để tỏ sự ân sủng của chúa, còn Chưởng vệ là chức đứng đầu một Vệ. Thời chúa Nguyễn Phúc Thuần, đơn vị Vệ thường rất phức tạp, lớn nhỏ không chừng. Tuy nhiên, quan Chưởng vệ bao giờ cũng được xếp vào hàng bậc trung.

    CÔ (18): Từ khiêm xưng của vua. Quan lại, dầu lớn bao nhiêu cũng không được xưng như vậy. Bởi thế, triều thần cho là Lê Văn Duyệt đã phạm trọng tội khi tự xưng là cô.

    CƠ MẬT ĐẠI THẦN, HIỆP BIỆN ĐẠI HỌC SĨ (28): vị quan lớn, được quyền dự bàn những việc cơ mật của quốc gia, chức Hiệp biện Đại học sĩ. Chức này thường có hàm Tòng nhất phẩm.

    CƠ MẬT VIỆN (38): Tên cơ quan. Cơ Mật Viện là cơ quan của các bậc đại thần, những người có trọng trách bàn bạc các vấn đề cơ mật của quốc gia để vua tham khảo.

    CƠ MẬT VIỆN ĐẠI THẦN (27): Tên chức quan. Chức này dành cho các vị quan lớn làm việc ở Cơ Mật Viện.

    CỤC BẢO TUYÊN (30): Tên cơ quan. Cơ quan này chuyên lo việc đúc tiền cho nhà nước.

    CHỦ SỰ (27), (30): Tên chức quan. Chức này đại để cũng như chánh văn phòng của một bộ nào đó.

    CHIÊM Ê (13): Tên đất. Đất này nay thuộc Thừa Thiên - Huế.

    CHUYỆN HOÀNG BÀO Ở TRẦN KIỀU (8): Chuyện về Triệu Khuông Dận (ở Trung Quốc). Triệu Khuông Dạn vốn là tướng của nhà Hậu Chu, khi ông đem quân đến Trần Kiều thì được tướng sĩ khoác áo bào cho và tôn lập làm vua. Đó là vua Tống Thái Tổ. Đây các triều thần vu cho Lê Văn Duyệt tội có ý cướp ngôi như Triệu Khuông Dận đã cướp ngôi của nhà Hậu Chu.

    DƯƠNG KIÊN (19): Tên người. Dương Kiên người Trung Quốc, sống vào khoảng nửa sau của thế kỉ thứ VI. ông là quan Phụ chính Đại thần, có con gái là Hoàng hậu của vua Tuyên Đế nhà Bắc Chu (một trong những nước của Bắc Triều thời Nam - Bắc Triều ở Trung Quốc). Lúc vua Tuyên Đế mất, vua nối ngôi là Tĩnh Đế (cũng là cháu ngoại của Dương Kiên) hãy còn nhỏ, nhân đó, Dương Kiên đã mượn tiếng khoan dung để thu phục lòng người rồi nhân đây mà cướp ngôi nhà Bắc Chu. Dương Kiên là người sáng lập ra nhà Tùy (581 - 618). Ông chính là vua Tùy Văn Đế. Đây các triều thần có ý vu cho Lê Chất tội xin Hoàng tử làm con nuôi của mình, chẳng qua chỉ cốt bắt chước Dương Kiên, lập mưu cướp ngôi mà thôi.

    ĐÀN NAM GIAO (13): Tức đàn tế Giao. Tế Giao là tế trời đất, lễ đại tế này chỉ có Thiên tử mới được cử hành. Đàn tế Giao bao giờ cùng đắp ở phía Nam của kinh đô nên mới gọi là đàn Nam Giao. Thông thường, đàn Nam Giao có hai phần đắp chồng lên nhau. Phần dưới hình vuông, tượng trưng cho đất, gọi là phương đàn nghĩa là đàn hình vuông). Phần trên hình tròn, tượng trưng cho trời, gọi là viên đàn (đàn hình tròn). Từ thời Lê trở về trước, đàn Nam Giao của nước ta ở Hà Nội, thời Nguyễn, đàn Nam Giao ở Huế.

    ĐẢO CỔ CỐT (13): Tên đảo. Nay đảo này thuộc tỉnh Kiên Giang.

    ĐÔ ĐỐC (09): Đây là chức của tướng Tây Sơn là Nguyễn Văn Khôn. Thời Tây Sơn, Đô đốc là chức võ quan cao cấp. Tuy nhiên, vì hệ thống quan chức thời này chưa chặt chẽ, cho nên chỉ có thể tạm hiểu như thế mà thôi.

    ĐÔ SÁT, PHÓ NGỰ SỬ VIỆN (28): Tên chức quan. Đô sát là chức quan làm việc tại Ngự Sử Viện (cơ quan lo việc can gián hoặc hặc tội bá quan, dâng lời can gián đối với cả nhà vua khi xét thấy cần thiết). Chức này cũng tương tự như chức Gián quan, Ngôn quan hoặc Ngự sử. Phó Ngự Sử Viện là quan đứng hàng thứ hai của cơ quan Ngự Sử Viện.

    ĐÔ SÁT VIỆN (27): Cũng tức là Ngự Sử Viện hay Ngự Sử Đài.

    ĐÔ THỐNG (10): Vinh hàm mà vua Gia Long vẫn thường ban cho các quan đứng đầu một trấn. Đây là vinh hàm của quan trấn thủ Nghệ An là Nguyễn Văn Hiếu.

    ĐÔ THÔNG CHẾ (09): Chức võ quan cao cấp của Nguyễn Phúc Ánh. Do lúc này, hệ thống quan chức chưa chặt chẽ, nên tạm hiểu là như thế cũng được.

    ĐÔNG ĐỘC BỘ (37): Tên đất. Đất này nay thuộc huyện Hải Hậu, tỉnh Nam Định.

    ĐỒNG TRI PHỦ (38): Tương đương với chức Tri phủ. Tri phủ là quan đứng đầu một phủ. Người được hưởng hàm thực thụ thì gọi là Tri phủ, người chỉ mới cho hưởng hàm tương đương với Tri phủ thì gọi là Đồng tri phủ.

    ĐƯỜNG THÁI TÔNG (32): Vua thứ hai của nhà Đường (Trung Quốc), họ và tên thật là Lý Thế Dân, lên ngôi năm 626, ở ngôi 22 năm (từ năm 626 đến năm 648).

    GIÁM THÍ (12): Coi thi.

    GIÁO ĐẠO Ở NHÀ DỤC ĐỨC (38): Giáo đạo là chức quan lo việc dạy học ở triều đình. Nhà Dục Đức là nhà nghe giảng học của các Hoàng tử thời Nguyễn.

    GIÁO TẬP Ở NHÀ QUẢNG PHÚC (30): Giáo tập cũng là tên chức quan chuyên lo việc dạy học ở triều đình. Nhà Quảng Phúc là nơi các Hoàng tử và con em trong hoàng tộc nghe giảng học.

    GIÁO THỤ (38): Tên chức quan chuyên trông coi về giáo dục ở cấp phủ.

    HÀ CÁT (37): Tên đất. Đất này nay chưa rõ là ở đâu, chỉ biết đại để nằm ở vùng duyên hải phía Đông Bắc của nước ta.

    HÀN LÂM TU SOẠN (37): Tên chức quan. Chức này chuyên lo việc biên chép ở cơ quan Viện Hàn Lâm của triều đình.

    HÀN LÂM THỊ ĐỘC (30): Tên chức quan. Chức này chuyên lo việc rà soát lại các văn bản của Viện Hàn Lâm trước khi trình duyệt.

    HÀN LÂM VIỆN THỊ GIẢNG (37): Tên chức quan. Chức này chuyên lo việc công bố các văn bản của Viện Hàn Lâm.

    HÁN MINH ĐẾ (32): Vua thứ hai của nhà Đông Hán (cũng gọi là nhà Hậu Hán) ở Trung Quốc, làm vua từ năm 57 đến năm 74.

    HÁN QUANG VÕ (32): Vua đầu tiên của nhà Đông Hán (cũng gọi là nhà Hậu Hán) ở Trung Quốc, làm vua từ năm 25 đến năm 57.

    HÁN VĂN ĐẾ (32): Vua thứ ba của nhà Tây Hán (cũng gọi là nhà Tiền Hán) ở Trung Quốc, làm vua từ năm 135 trước Công nguyên đến năm 157 trước Công nguyên.

    HÀNG PHÓ KHANH (38): Thời này, các chức quan ở các bộ, nếu thấp hơn Thượng thư mà cao hơn Lang trung thì được xếp chung vào hàng Phó khanh.

    HÀNH TẨU (38): Chức quan hạng thấp, lo giúp việc ở các bộ hoặc ở các cơ quan của triều đình. Chức này thường dùng cho các quan đang trong thời kì tập sự.

    HẬU QUÂN (08): Thời này, quân đội thường được chia làm Ngũ quân. gồm có: Tiền quân, Hậu quân, Trung quân, Tả quân và Hữu quân. Như vậy, Hậu quân là một trong số Ngũ quân.

    HIỆP ĐỐC (34): Tên chức quan. Chức này tương đương với chức Phó Đô đốc nhưng thường do quan văn nắm giữ.

    HỢP TRẤN (40): Chức quan thứ hai ở mỗi trấn, sau chức Trấn thủ.

    HOÀNG NỮ (24): Chỉ chung con gái của hoàng tộc.

    HOẮC QUANG (19): Tên người. Hoắc Quang là quan Phụ chính thời Hán Chiêu Đế (Trung Quốc, cuối thế kỉ thứ nhất trước Công nguyên). Khi Hán Chiêu Đế mất, không có con nối dõi, Hoắc Quang bèn lập cháu nội của Hán Võ Đế là Xương Ấp Vương Hạ lên ngôi. Nhưng, Xương Ấp Vương Hạ hoang dâm vô độ nên mới ở ngôi được 100 ngày đã bị Hoắc Quang phế đi. Đây các quan muốn vu cho Lê Chất tội bày mưu phế lập nên mới ví với Hoắc Quang.

    HUN THẦN (07): Bề tôi có công lao to lớn.

    HƯNG MIẾU (21): Miếu thờ các đời chúa Nguyễn.

    KIỀN DƯƠNG (09): Tên đất, nay chưa rõ ở đâu nhưng đoán là ở vùng Quảng Nam.

    KHÂM SAI CHƯỞNG HẬU QUÂN (19): Tướng đứng đầu Hậu quân, thừa lệnh vua mà đem quân đi.

    KINH DIÊN GIẢNG QUAN (26): Kinh Diên là tòa Kinh Diên, nơi vua đến nghe giảng bình về sách vở. Giảng quan là chức quan giúp việc giảng sách cho vua nghe ở tòa Kinh Diên.

    KINH DIÊN KHỞI CHÚ (41): Tên chức quan chuyên lo việc ghi chép những điều giảng bàn của vua với các Giảng quan ở tòa Kinh Diên.

    LẠC HOÀN (07): Tên đất ở phía tây nam tỉnh Nghệ An.

    LANG TRUNG (27), (41): Chức quan đứng hàng thứ ba ở các bộ, sau các chức Thượng thư và Thị lang.

    LẠNG BÌNH HỘ PHỦ (18): Chức quan đứng đầu vùng đất tương ứng với Cao Bằng và Lạng Sơn ngày nay.

    LỄ BỘ THƯỢNG THƯ, CẦN CHÁNH ĐIỆN ĐẠI HỌC SĨ, ĐỨC QUỐC CÔNG (23): Quan đứng đầu bộ Lễ, hàm Cần Chánh Điện Đại học sĩ (một trong tứ trụ của triều đình), tước Quốc công, hiệu là Đức. Đây là chức hàm và tước vị của Phạm Đăng Hưng, thân sinh cua bà Từ Dụ. Truyện "Việt Sử Giai Thoại " được copy từ diễn đàn Lương Sơn Bạc (LuongSonBac.com)

    LỄ BỘ THƯỢNG THƯ (13): Quan đứng đầu bộ Lễ.

    MỤC HẠ VÔ NHÂN (14): Không có ai ở dưới mắt. Ý chỉ sự khinh người.

    NAM KÌ LỤC TỈNH (28): Tương đương vùng đất Nam Bộ ngày nay. Xưa, đất Nam Kì được chia làm sáu tỉnh, gọi là Nam Kì lục tỉnh. Sáu tỉnh đó gồm có: Biên Hòa, Gia Định, Định Tường, Vĩnh Long, An Giang và Hà Tiên.

    NAM NGÃI (29): Nam là Quảng Nam, Ngãi là Quảng Ngãi.

    NHÀ QUẢNG PHÚC (30): Nơi các Hoàng tử và con em trong hoàng tộc học tập.

    NINH THÁI TỔNG ĐỐC (38): Tổng đốc hai tỉnh Ninh Bình và Thái Bình.

    NỘI CÁC (27): Tên cơ quan cua triều đình, được thành lập từ năm 1829.

    NỘI CÁC HÀNH TẨU (38): Chức quan giúp việc ở Nội Các. Chức nay thấp, thường được trao cho các quan đang thời tập sự.

    NGOẠI HỮU CHƯỞNG DOANH (21): Chức này chỉ có thời chúa Nguyễn, đại để, đó là chức đứng hàng thứ hai trong số các võ quan cầm quân đi đánh giặc ở ngoài trận mạc.

    NGOẠI HỮU PHỤ CHÍNH THƯỢNG TƯỚNG QUÂN (21): Chức này chỉ có ở thời chúa Nguyễn, đại để, đó là chức Thượng tướng quân, đứng hàng thứ hai trong số các võ quan cầm quân đi đánh giặc ở ngoài trận mạc, giữ trọng trách trong việc giúp vua mới dựng nghiệp.

    NGŨ MÔN (19): Tên lầu ở kinh thành Thăng Long cũ, nơi nhà vua ngồi mỗi khi có duyệt binh ở kinh thành.

    NGƯỜI MAN (07): Tiếng chỉ chung đồng bào các dân tộc ít người.

    PHÁT PHỐI (12), (19): Đưa đi đày.

    PHÓ TỔNG TÀI (25): Cũng tương tự như chức Phó ban Biên tập hay Phó Chủ biên ngày nay.

    PHÓ TRƯỞNG SỬ (06): Tên chức việc trong phủ đệ của quý tộc họ Nguyễn. Chức này đứng thứ hai sau chức Trưởng sử, là chức tương tự như quản gia.

    QUẢNG YÊN HỘ PHỦ (18): Chức quan đứng đầu vùng Quảng Yên (nay là vùng Quảng Ninh).

    QUÂN ĐÔNG SƠN (07): Đội quân do Đỗ Thanh Nhơn lập ra. Đội quân này vì muốn tỏ là đối nghịch với quân Tây Sơn của anh em Nguyễn Nhạc, Nguyễn Huệ và Nguyễn Lữ nên mới lấy tên là Đông Sơn.

    QUÂN TIỀN HIỆU LỰC (19): Tên hình phạt. Bị tội đến một mức nào đó thì tội nhân bị đem đi phục dịch trong quân đội để lập công mà chuộc tội. Hình phạt này gọi là quân tiền hiệu lực.

    QUÂN XÁ THỊ TRUNG (13): Nơi ở quân lính trong kinh thành.

    QUỐC SỬ QUÁN BIÊN TU (38): Chức quan lo việc biên soạn sử sách trong cơ quan Quốc Sử Quán.

    QUỐC TỬ GIÁM TƯ NGHIỆP (30): Quốc Tử Giám là cơ quan chuyên lo giảng dạy cho con em quý tộc. Người ngoài tôn thất của họ Nguyễn cũng có khi được vào học ở đây. Quốc Tử Giám Tư nghiệp là chức quan đứng hàng thứ hai của cơ quan này.

    QUY CHẾ CỦA HIẾU LĂNG (32): Ý nói theo quy cách xây Hiếu Lăng xưa. Hiếu Lăng là lăng của vua Đường Thái Tông (Trung Quốc), do nhà vua tổ chức xây khi nhà vua đang sống.

    TẢ DOANH ĐÔ THỐNG CHẾ (10): Chức võ quan đứng đầu Tả Doanh. Các Doanh trong thời kì từ buổi đầu Gia Long trở về trước cũng tương tự như các quân trong Ngũ quân ở giai đoạn sau.

    TẢ QUÂN (14): Một trong Ngũ quân (xem thêm Ngũ quân).

    TẢ THAM TRI BỘ LỄ (25): Chức quan đứng hàng thứ tư ở bộ Lễ, sau các chức Thượng thư, Tả Hữu Thị lang và Lang trung. Chức này cũng do hai người giữ, đó là Tả và Hữu Tham tri.

    TÀO HỘ (16): Tên cơ quan. Ở triều đình có các bộ, còn ở Gia Định thành và ở Bắc thành có các Tào, kể như là bộ phận đại diện của các bộ. Tào Hộ là cơ quan dại diện của bộ Hộ. Truyện "Việt Sử Giai Thoại " được copy từ diễn đàn Lương Sơn Bạc (LuongSonBac.com)

    TẾ TỬU (38): Tên chức quan. Chức này lo giữ việc giáo hóa và cử hành các nghi lễ.

    TIẾM LÀM LẦU CHUÔNG, LẦU TRỐNG (19): Dám vượt cả chức phận mà làm lầu chuông, lầu trống. Xưa, lầu chuông, lầu trống chỉ có ở kinh đô, quan lại mà làm lầu chuông, lầu trống là vượt qua chức phận của mình, tức là phạm tội.

    TIỆN ĐIỆN (41): Nơi vua ở.

    TIẾT CHẾ (13): Tướng được trao quyền chỉ huy cao nhất trong một cuộc hành quân nào đó.

    TIẾT VẠN THỌ (24): Sinh nhật của vua.

    TỈNH THẦN (19): Quan lại ở cấp tỉnh.

    TÒNG NHỊ PHẨM (29): Quan lại xưa được chia làm chín phẩm hàm cao thấp khác nhau, cao nhất là Nhất phẩm, thấp nhất là Cửu phẩm. Mỗi phẩm hàm lại có hai bậc cao thấp khác nhau, bậc Chánh ở trên, bậc Tòng ở dưới. Như vậy, tiếng là có chín phẩm hàm nhưng thực lại có đến mười tám phẩm hàm cao thấp khác nhau. Suy ra, Tòng nhị phẩm là bậc 3/18.

    TÙY BIỆN (40): Chức võ quan. Chức này tương tự như chức Tham mưu ngày nay.

    TƯ VỤ (25): Chức quan lo việc nhận và phát công văn của các cơ quan cấp bộ và cấp viện ở triều đình.

    THÁI BẢO CẦN CHÁNH ĐIỆN ĐẠI HỌC SĨ (35): Thái bảo là vinh hàm mà triều đình ban cho một số đại thần. Do chỉ là vinh hàm nên vị trí của Thái bảo không lớn như các bậc Tam Thái (Thái sư, Thái bảo và Thái phó) của các triều đại trước. Cần Chánh Điện Đại học sĩ cũng là vinh hàm ban cho bốn vị được coi là tứ trụ của triều đình.

    THÁI TỂ (41): Cũng tức là Tể tướng hay Tham tụng, tên chức quan đầu triều.

    THAM ĐỐC (09). Tên chức quan của Tây Sơn. Chức này dành cho các võ quan bậc trung, dưới quyến điều khiển của Đô đốc.

    THAM HIỆP (30): Chức quan đứng hàng thứ ba ở các trấn, sau chức Trấn thủ và Hiệp trấn.

    THAM LUẬN (14): Chức quan lo giúp việc đề xuất các ý kiến để các quan ở các quân trong Ngũ quân hoặc các Trấn tham khảo trước khi quyết định.

    THAM TRI (16), (27). (30): Chức quan đứng hàng thứ tư ở các hộ và hàng thứ hai ở các Tào. (Xem thêm: TÀO HỘ)

    THẤM ĐẾN TAI ĐẾN TÓC (19): Ý nói thấm rất sâu.

    THỊ GIÀNG HỌC SĨ (29): Chức quan trong Viện Hàn Lâm, thường có hàm Tòng tứ phẩm. (8/18).

    THỊ TRUNG HỌC SĨ (12): Chức quan văn bậc trung ở triều đình. Đầu đời Gia Long, chức này chịu trách nhiệm đọc và tóm lược các tấu sớ các nơi gởi về triều đình để tâu trình cho vua.

    THIÊM SỰ (13): Chức quan làm việc ở các bộ, dưới chức Tả và Hữu Tham tri, tức đứng vào hàng thứ năm, sau các chức Thượng thư, Thị lang, Lang trung và Tham tri.

    THUẬN THIÊN CAO HOÀNG HẬU (01): Thân mẫu của vua Minh Mạng, người họ Trần, quê ở huyện Hương Trà, tỉnh Thừa Thiên, con gái của Thọ Quốc công Trần Hưng Đạt. Bà sinh năm 1768, mất năm 1846, thọ 78 tuổi.

    THÔNG BIẾN (15): Hiểu rõ các lẽ biến hóa.

    THỰ ÁN SÁT (29): Được trao quyền án sát chưa phải là án sát thực thụ. (Xem thêm Án sát)

    THỰ BỐ CHANH (29): Được trao quyền Bố chánh chứ chưa phải là Bố chánh thực thụ.

    THỰ HIỆP TRẤN (30): Được trao quyền Hiệp trấn chứ chưa phải là Hiệp trấn thực thụ. (Xem thêm Hiệp trấn).

    THỰ HỮU THAM TRI (29): Được trao quyền Hữu Tham tri chứ chưa phải là Hữu Tham tri thực thụ.

    THỰ LỄ BỘ HỮU THAM TRI (38): Được trao quyền Lễ bộ Hữu Tham tri chứ chưa phải là Lễ bộ Hữu Tham tri thực thụ.

    THỰ TỔNG ĐỐC (31): Được trao quyền Tổng đốc chứ chưa phải Tổng đốc thực thụ.

    THỰ TƯ NGHIỆP (30): Được trao quyền Tư nghiệp chứ chưa phải là Tư nghiệp thực thụ.

    THỰ THỊ LANG BỘ HỘ (28): Được trao quyền Thị lang bộ Hộ chứ chưa phải là Thị lang bộ Hộ thực thụ.

    THỰ THỊ LANG BỘ LẠI (29): Được trao quyền Thị lang bộ Lại chứ chưa phải là Thị lang bộ Lại thực thụ.

    THƯƠNG BIỆN (37): Chức quan được quyền cùng với các quan võ bàn bạc để sấp đặt các việc quân cơ ở một vùng nào đó.

    TRÀ KHÚC (09): Tên sông ở Quảng Ngãi.

    TRƯỚC THUẬT (Lời đầu sách): Biên soạn sách, viết sách.

    VẠN NIÊN CƠ (27): Nền muôn thuở. Các vua nhà Nguyễn thường lo xây lăng cho mình ngay khi còn sống (xây sinh phần). Vạn Niên Cơ là lăng của vua Tự Đức.

    VẠN TƯỢNG (01): Tên vương quốc, nay thuộc Lào.

    VỆ ÚY (09): Chức võ quan đứng đầu một vệ.

    VIÊN NGOẠI LANG (30): Chức quan ngoại ngạch, bậc thấp ở các bộ.

    VINH LỘC ĐẠI PHU, HIỆP BIỆN ĐẠI HỌC SĨ (25): Vinh hàm dành cho các quan ở dưới hàng tứ trụ triều đình. Các quan này thường có hàm Tòng nhất phẩm (2/18).

    VIÊN TẬP HIỀN (26): Cơ quan của những bậc hiền tài, chuyên lo việc giảng giải kinh sách cho vua nghe.

    XIÊM LA (07): Tức Thái Lan.

    Y DOÃN (19): Danh thần của nhà Thương (Trung Quốc), người đã phò tá vua Thang, đánh đuổi vua Kiệt tàn bạo của nhà Hạ. Sau, vua Thang mất, cháu là Thái Giáp lên nối ngôi. Thái Giáp vô đạo, ông bắt đi đày ba năm, khi biết hối lỗi mới cho về. Ở đây kết tội Lê Chất và Lê Văn Duyệt mà mượn tích Hoắc Quang, Y Doãn thì không được chính xác.

    YÊN KINH (12): Tức Bắc Kinh, thủ đô của Trung Quốc ngày nay.


    Nhắn tin cho tác giả
    Phạm Minh Tuấn @ 19:25 09/08/2012
    Số lượt xem: 497
    Số lượt thích: 0 người
     
    Gửi ý kiến

    Tin tức tổng hợp

    Kiểm tra code

    (Sẽ không hiển thị nếu code bị lỗi.)

    Ninh Hòa quê hương tôi

    Ơi con sông Dinh

    CÁM ƠN QUÝ VỊ ĐẾN VỚI BLOG TƯ LIỆU LỊCH SỬ VIỆT NAM, CHÚC QUÝ VỊ CÓ NHỮNG PHÚT GIÂY VUI VẺ VÀ THOẢI MÁI!