Mấy giờ rồi nhỉ?

cà phê nhé!

Tài nguyên dạy học

Thành viên trực tuyến

2 khách và 0 thành viên

Thống kê

  • truy cập   (chi tiết)
    trong hôm nay
  • lượt xem
    trong hôm nay
  • thành viên
  • Hôm nay ngày mấy nhỉ?

    Ngày này năm xưa

    Bộ GD&ĐT

    Lời hay, ý đẹp

    Báo Mới đây!

    Hỗ trợ trực tuyến

    • (pmtuan69td)

    Điều tra ý kiến

    Bạn thấy trang này như thế nào?
    Đẹp
    Đơn điệu
    Bình thường
    Ý kiến khác

    Ảnh ngẫu nhiên

    TRAT_TU_HAI_CUC.jpg Phan_chia_pham_vi_anh_huong_sau_chien_tranh_the_gioi_thu_hai.jpg Nhung_canh_quan_tien_vao_Sai_gon_.jpg Nguon_loi_cua_tu_ban_Phap_o_Viet_Nam_trong_cuoc_khai_thac_lan_thu_hai.jpg Mien_Bac_XHCN__19651968.jpg Luoc_do_Van_Tuong_8__1965.jpg Luoc_do_phong_trao_Dong_Khoi.jpg Luoc_do_nuoc_Duc_.png Luoc_do_nuoc_CHND_Trung_Hoa_sau_ngay_thanh_lap.jpg Luoc_do_Nhat_Ban_sau_Chien_tranh_the_gioi_thu_hai.jpg Luoc_do_Lien_bang_Nga.jpg Luoc_do_khu_vuc_Mi_Latinh_sau_nam_1945.jpg Luoc_do_khoi_nghia_Yen_Bai_1930.jpg Luoc_do_hanh_trinh_cuu_nuoc_cua_Chu_Tich_Ho_Chi_Minh_19111941.jpg Luoc_do_Dong_Duong_nam_1954.jpg Luoc_do_CM_T8_1945.jpg Luoc_do_chien_dich_Viet_Bac_thu__dong_19471.jpg Luoc_do_chien_dich_Thuong_Lao.jpg Luoc_do_chien_dich_Tay_Nguyen.jpg Luoc_do_chien_dich_Hue__Da_Nang.jpg

    Sắp xếp dữ liệu

    Truyện cười

    ĐỪNG HÒNG QUAY BÀI NHÉ!

    BÁCH KHOA TOÀN THƯ

    Mừng ngày Nhà giáo Việt Nam

    Gốc > Non nước Khánh Hòa >

    Tên gọi Nha Trang có từ khi nào

    1. VỀ ĐỊA DANH NHA TRANG
    TÊN NHA TRANG XUẤT HIỆN TỪ KHI NÀO?
    Từ năm 1653, với việc thành lập đơn vị hành chính dinh Thái Khang cai quản hai phủ Thái Khang và Diên Ninh, vùng đất Nha Trang-Khánh Hòa ngày nay đã trở thành một phần lãnh thổ của quốc gia Đại Việt(1). Có thể tên Nha Trang đã xuất hiện ngay từ buổi đầu khi lưu dân người Việt theo lệnh chúa Nguyễn đến khai khẩn và định cư ở vùng đất ven biển này. Trong Toản tập Thiên Nam tứ chí lộ đồ thư, tập bản đồ đường xá Việt Nam do nho sinh trúng thức họ Đỗ Bá tự Công Đạo soạn vào khoảng nửa cuối thế kỷ XVII, đã thấy có tên Nha Trang môn (cửa Nha Trang)(2). Trong một bản đồ khác cũng có niên đại cuối thế kỷ XVII mang tên Giáp Ngọ niên bình Nam đồ của Đoan Quận công Bùi Thế Đạt cũng thấy ghi rõ Nha Trang hải môn (cửa biển Nha Trang)(3). Đây có lẽ là những tài liệu sớm nhất đề cập đến địa danh này. Mặt khác, trong thư từ của các giáo sĩ châu Âu đến truyền đạo ở Đàng Trong vào đầu thế kỷ XVIII, lần đầu tiên ta thấy tên Nha Trang được ghi lại bằng mẫu tự La-tinh. Chẳng hạn trong lá thư đề ngày 31-5-1715 của Giám mục người Pháp Marin gởi cho những giám đốc Chủng viện kể lại một vụ đắm tàu của người Hà Lan tại vùng đảo Hoàng Sa, tác giả có nhắc đến một địa danh nguyên văn như sau: “un port nommé Nhatlang” (một cảng biển có tên Nha Trang). Ở một lá thư khác đề ngày 16-10-1718 ông lại viết: “le canton de Nhatlang” (tổng Nha Trang)(4). Điều đáng chú ý ở đây là cách ghi âm địa danh Nha Trang = Nhatlang. Ngoài dạng này, ta còn thấy một số cách ghi tương tự như trong tập Mémoire sur la Cochinchine (Hồi ký về xứ Đàng Trong) viết năm 1744 của thương nhân người Pháp Pierre Poivre, trong đó Nha Trang đã được viết là Natlang (5), hoặc trong một lá thư xuất bản năm 1746 của M. Faure, một thầy lễ Thụy Sĩ, tả lại các tổ yến trên vách đá của những hòn đảo ngoài khơi thành phố Nathlang (6). Về mặt ngữ âm, tiếng Việt ở thế kỷ XVI, XVII có một số tổ hợp phụ âm đầu như bl, ml, tl... về sau này không còn nữa mà biến thành một số phụ âm khác, ví dụ tl sau này biến thành tr (Trong “Từ điển Annam - Lusitan - Latinh” của Alexandre de Rhodes xuất bản lần đầu năm 1651 có các từ TLĂM = TRĂM, TLÂU = TRÂU, TLÊN = TRÊN...)(7). Một tài liệu khác có thể cho ta biết tường tận xã hội Đàng Trong vào đầu thế kỉ XVIII là sách Phủ biên tạp lục của Lê Quý Đôn viết vào năm 1776 khi ông trấn nhậm hai đạo Thuận - Quảng. Trong tác phẩm này có ghi những địa danh như Nha Trang nguyên (nguồn Nha Trang), Nha Trang đàm (đầm Nha Trang), Nha Trang dinh (dinh Nha Trang), Nha Trang dinh thị (chợ dinh Nha Trang) (thuộc phủ Diên Khánh), Nha Trang lãnh (đèo Nha Trang) (thuộc phủ Bình Khang). Điều đáng chú ý là, qua sự ghi chép tỉ mỉ của Lê Quý Đôn, ta có thể thấy rằng vào thời bấy giờ tên Nha Trang là tục danh rất thông dụng trong dân gian để chỉ chung phủ Diên Khánh, nơi đặt lị sở của dinh Bình Khang, tức vùng đất bao gồm cả thành phố Nha Trang lẫn huyện Diên Khánh ngày nay, như trong đoạn văn sau đây: “Phàm hóa vật được sản xuất ở các phủ Thăng Hoa, Điện Bàn, Quảng Ngãi, Quy Nhơn, Bình Khang và dinh Nha Trang…”(8). Nhiều tài liệu về sau cũng cho thấy cách gọi này đã tồn tại một thời gian dài. Trong một bài hịch của vua Quang Trung viết năm 1792 có đoạn: “Các ngươi sẽ thấy rằng Trẫm chỉ đánh một trận là Bình Khang, Nha Trang ... tức khắc được thu phục”(9). Sách Đại Việt địa dư toàn biên của Nguyễn Văn Siêu và Bùi Quỹ soạn dưới thời Tự Đức ghi lại sự kiện sau: “Năm Quý Sửu (1793) đại quân lấy lại Bình Khang, tiến đánh thành Quy Nhơn. Lúc ban sư, đắp thành đất ở thủ sở Nha Trang gọi là thành Diên Khánh, núi sông thật là thiên hiểm, tục gọi là thành Nha Trang”(10). Đến đời Gia Long đổi tên dinh Bình Khang thành dinh Bình Hòa rồi sau đó là trấn Bình Hòa thì trong An Nam đại quốc họa đồ của Giám mục Taberd in năm 1838 cũng ghi: “Nha Trang seu Bình Hòa trấn” (Nha Trang tức trấn Bình Hòa)(11). Mãi đến 1924 khi thị trấn Nha Trang được hình thành từ 5 ngôi làng cổ ven biển của thuộc Hà Bạc huyện Vĩnh Xương là Xương Huân, Phương Câu, Vạn Thạnh, Phương Sài, Phước Hải, địa danh Nha Trang mới thu hẹp lại để chỉ vùng đất là thành phố Nha Trang hiện nay.
    NGUỒN GỐC VÀ Ý NGHĨA ĐỊA DANH NHA TRANG
    Không kể cách giải thích Nha Trang có nghĩa là Nhà Trắng (12) chỉ là câu chuyện vui trong dân gian, đến nay đã có nhiều giả thuyết về nguồn gốc địa danh Nha Trang:
    a) Nha Trang là địa danh Hán-Việt do người Việt đặt khi đến vùng đất này. Từ trang (nghĩa Hán-Việt là trại làm ruộng) trong Nha Trang thể hiện “dấu vết tổ chức nông nghiệp thời phong kiến” (Theo Trần Thanh Tâm, Thử bàn về địa danh Việt Nam, 1976).



    b) Nha Trang là địa danh Hán-Việt do vua Trần Nhân Tông đặt khi vào thăm đất Chiêm Thành năm 1301 theo lời mời của vua Chiêm là Chế Mân. (Theo Mịch Quang & Nguyễn Hồng Sinh, Nha Trang là gì ?, 1992).
    c) Nha Trang từ tiếng Chăm ýa krưm nghĩa là sông tre (Theo A. Cabaton).
    d) Nha Trang từ tiếng Chăm ýa trăh nghĩa là chỗ hai dòng nước gặp nhau (Theo Nguyễn Khắc Ngữ).
    e) Nha Trang từ tiếng Chăm ýa trang nghĩa là sông lau (Theo Gerald Moussay, Thái Văn Kiểm, Quách Tấn, Nguyễn Đình Tư).
    Giả thuyết (a) và (b) với cách giải thích Nha Trang dựa vào nghĩa Hán-Việt khá khiên cưỡng vì không có sử liệu minh chứng cụ thể.
    Các giả thuyết còn lại (c, d và e), mặc dù có khác nhau trong việc lí giải các thành tố cấu tạo nên địa danh Nha Trang nhưng chúng đều thống nhất ở điểm:
    - Nha Trang là địa danh phiên âm từ tiếng Chăm, tiếng nói của một dân tộc vốn cư trú lâu đời ở vùng đất này.
    - Nha Trang nguyên là tên sông (chỉ sông Cái, Nha Trang), sau được dùng để gọi rộng ra cả vùng đất.
    Theo chúng tôi, tên Nha Trang có thể được hình thành do cách đọc Hán-Việt phỏng theo âm một địa danh Chăm vốn có trước là Ýa Trang. Trong sách Dictionnaire Căm-Vietnamien-Francais (Từ điển Chàm-Việt-Pháp) do linh mục Gerald Moussay và cộng sự biên soạn, có ghi như sau:
    - trang : cây lau
    - ýa : nước, bến nước, sông
    - paley ýa trang : xứ Nha Trang (13)
    Thành tố /ýa/ trong tiếng Chàm (và các ngôn ngữ chi Chàm như Ê-đê, Raglai ...) có nghĩa là nước, nguồn nước, đôi khi cũng dùng với nghĩa chỉ sông, suối. Cách đặt địa danh gồm những thành tố chỉ sông, suối, rừng, núi ... kết hợp với những thành tố khác chỉ đặc điểm, thuộc tính của chúng là những phương thức quen thuộc của các tộc người Nam Á, Nam Đảo mà Ýa Trang (sông lau) là một ví dụ. Mặt khác, cuộc sống của con người bao giờ cũng gắn với nguồn nước - một yếu tố quan trọng trong sinh hoạt hàng ngày. Từ tên nguồn nước (sông, suối ...) sau được dùng để gọi rộng ra vùng đất cư trú là quy luật phổ biến trong việc cấu tạo địa danh.
    Sự tồn tại của địa danh Chăm Ýa Trang còn được minh chứng qua các cứ liệu sau:
    - Khi kể lại sự tích vua Pô Klong Garai (tục gọi là vua Lác, nay còn đền thờ ở Tháp Chàm, Phan Rang), người Chăm có câu ca: “Ko ýa ru iku ýa trang” (nghĩa là “đầu ở xứ Ninh Hòa đuôi ở xứ Nha Trang”) để tả cảnh dân chúng đi đưa chàng Lác về Kinh làm vua, kéo thành một đoàn dài vô tận (14).
    - Trong tín ngưỡng dân gian của dân tộc Chăm, hình tượng nữ thần Pô I-nư Na-ga (người Việt gọi là Bà Thiên Y A Na hay Bà Chúa Ngọc) chiếm một vị trí hết sức quan trọng. Mỗi thôn xóm, mỗi vùng cư trú của người Chăm xưa đều thờ Bà mẹ xứ của họ, ngày nay ta còn nghe truyền tụng những cái tên như Pô I-nư Na-ga ha-mu Ca-wet (Mẹ xứ chim) ở Lạc Trị, Phan Rí; Pô I-nư Na-ga ha-mu Tan-răn (Mẹ xứ đồng bằng) ở Hữu Đức, Phan Rang; Pô I-nư Na-ga ha-mu Ýa Trang (Mẹ xứ lau) ở Nha Trang (15).
    Tóm lại, tên Nha Trang, gốc từ tiếng Chăm Ýa Trang (sông lau), là địa danh của người Việt gọi vùng đất đã thuộc chủ quyền của mình từ năm 1653. Hơn 3 thế kỉ rưỡi trải qua nhiều biến động lịch sử, ban đầu chỉ là tục danh, về sau trở thành địa danh hành chính chính thức, tên Nha Trang vẫn tồn tại như một địa danh truyền thống cho đến ngày nay.
    Nhắn tin cho tác giả
    Phạm Minh Tuấn @ 12:58 16/12/2010
    Số lượt xem: 523
    Số lượt thích: 0 người
     
    Gửi ý kiến

    Tin tức tổng hợp

    Kiểm tra code

    (Sẽ không hiển thị nếu code bị lỗi.)

    Ninh Hòa quê hương tôi

    Ơi con sông Dinh

    CÁM ƠN QUÝ VỊ ĐẾN VỚI BLOG TƯ LIỆU LỊCH SỬ VIỆT NAM, CHÚC QUÝ VỊ CÓ NHỮNG PHÚT GIÂY VUI VẺ VÀ THOẢI MÁI!