Mấy giờ rồi nhỉ?

cà phê nhé!

Tài nguyên dạy học

Thành viên trực tuyến

2 khách và 0 thành viên

Thống kê

  • truy cập   (chi tiết)
    trong hôm nay
  • lượt xem
    trong hôm nay
  • thành viên
  • Hôm nay ngày mấy nhỉ?

    Ngày này năm xưa

    Bộ GD&ĐT

    Lời hay, ý đẹp

    Báo Mới đây!

    Hỗ trợ trực tuyến

    • (pmtuan69td)

    Điều tra ý kiến

    Bạn thấy trang này như thế nào?
    Đẹp
    Đơn điệu
    Bình thường
    Ý kiến khác

    Ảnh ngẫu nhiên

    TRAT_TU_HAI_CUC.jpg Phan_chia_pham_vi_anh_huong_sau_chien_tranh_the_gioi_thu_hai.jpg Nhung_canh_quan_tien_vao_Sai_gon_.jpg Nguon_loi_cua_tu_ban_Phap_o_Viet_Nam_trong_cuoc_khai_thac_lan_thu_hai.jpg Mien_Bac_XHCN__19651968.jpg Luoc_do_Van_Tuong_8__1965.jpg Luoc_do_phong_trao_Dong_Khoi.jpg Luoc_do_nuoc_Duc_.png Luoc_do_nuoc_CHND_Trung_Hoa_sau_ngay_thanh_lap.jpg Luoc_do_Nhat_Ban_sau_Chien_tranh_the_gioi_thu_hai.jpg Luoc_do_Lien_bang_Nga.jpg Luoc_do_khu_vuc_Mi_Latinh_sau_nam_1945.jpg Luoc_do_khoi_nghia_Yen_Bai_1930.jpg Luoc_do_hanh_trinh_cuu_nuoc_cua_Chu_Tich_Ho_Chi_Minh_19111941.jpg Luoc_do_Dong_Duong_nam_1954.jpg Luoc_do_CM_T8_1945.jpg Luoc_do_chien_dich_Viet_Bac_thu__dong_19471.jpg Luoc_do_chien_dich_Thuong_Lao.jpg Luoc_do_chien_dich_Tay_Nguyen.jpg Luoc_do_chien_dich_Hue__Da_Nang.jpg

    Sắp xếp dữ liệu

    Truyện cười

    ĐỪNG HÒNG QUAY BÀI NHÉ!

    BÁCH KHOA TOÀN THƯ

    Mừng ngày Nhà giáo Việt Nam

    Gốc > Giai thoại Việt sử > 69 giai thoại thể kỷ XVII >

    CÁC ĐỜI VUA VÀ CHÚA TRỊ VÌ TRONG THẾ KỈ XVIII

    Cục diện chính trị của thế kỉ XVIII vẫn tiếp tục phát triển theo chiều hướng phức tạp. Để bạn đọc tiện theo dõi các giai thoại được trình bày trong tập này, chúng tôi viết thêm bảng tra Các đời vua và chúa trị vì trong thế kỉ XVIII. Ở đây, các đời được trình bày theo tuần tự thời gian trước sau nhưng với các dòng họ từng nắm quyền trị vì, chúng tôi tạm sắp như dưới đây, chẳng qua cũng bởi việc kẻ bảng sắp theo hàng ngang, kể cũng có chút bất tiện. Truyện "Việt Sử Giai Thoại " được copy từ diễn đàn Lương Sơn Bạc (LuongSonBac.com)

    I - CÁC ĐỜI VUA HỌ LÊ TRONG THẾ KỈ XVIII

    01 - LÊ DỤ TÔNG (1705 -1729)

    - Họ và tên thật: Lê Duy Đường, con trưởng của Lê Hy Tông (1675 - 1705), thân mẫu là Nguyễn Thị Ngocc Đệ (người xã Trùng Quán, huyện Đông Ngàn, nay thuộc Bắc Ninh).

    - Vua sinh tháng 10 năm Canh Thân (1680), lên ngôi tháng 4 năm 1705, ở ngôi 24 năm (1705 - 1729) rồi nhường ngôi cho con thứ là Lê Duy Phường để làm Thượng hoàng 2 năm (1729 - 1731).

    - Vua mất vào tháng 1 năm Tân Hợi (1731), thọ 51 tuổi. Trong thời gian ở ngôi, Lê Dụ Tông đã đặt hai niên hiệu sau đây: Truyện "Việt Sử Giai Thoại " được copy từ diễn đàn Lương Sơn Bạc (LuongSonBac.com)

    + Vĩnh Thịnh (1705 - 1720)

    + Bảo Thái (1720 - 1 729)

    02 - LÊ ĐẾ DUY PHƯỜNG (1729 -1732)

    - Họ và tên thật: Lê Duy Phường,. con thứ của Lê Dụ Tông, thân mẫu người họ Trịnh.

    - Vua sinh năm Kỉ Sửu (1709), được lập làm Thái tử ngày 8 tháng 7 năm Đinh Mùi (1727), lên nối ngôi ngày 21 tháng 4 năm Kỉ Dậu (1729), ở ngôi ba năm (1729 - 1732), bị chúa Trịnh Giang phế làm Hôn Đức Công ngày 15 tháng 8 năm 1732 và bị Trịnh Giang giết vào tháng 9 năm Ất Mão (1735), thọ 26 tuổi.

    - Trong thời gian ở ngôi, Lê Đế Duy Phường chỉ đặt một niên hiệu là Vĩnh Khánh (1729 - 1732).

    03 - LÊ THUẦN TÔNG (1732 - 1735)

    - Họ và tên thật: Lê Duy Tường, con trưởng của Lê Dụ Tông, thân mẫu người họ Nguyễn.

    - Vua sinh vào tháng 2 năm Kỉ Mão (1699), lên ngôi ngày 26 tháng 8 năm Nhâm rí (1732). Ở ngôi ba năm (1732 - 1735), mất vào ngày 15-4-1735, thọ 36 tuổi.

    - Trong thời gian ở ngôi, Lê Thuần Tông chỉ đặt một niên hiệu là Long Đức (1732 - 1735).

    04 - LÊ Ý TÔNG (1735 - 1740)

    - Họ và tên thật: Lê Duy Thận (lại còn có tên là Lê Duy Chấn), con thứ 11 của Lê Dụ Tông, thân mẫu là ai chưa rõ.

    - Vua sinh vào tháng 2 năm Kỉ Hợi (1719), lên ngôi ngày 27 tháng 4 năm Ất Mão (1735), ở ngôi 5 năm (1735 - 1740), nhường ngôi để làm Thượng hoàng 19 năm (1740 - 1759), mất vào tháng sáu (nhuận) năm Kỉ Mão (1759), thọ 40 tuổi.

    - Trong thời gian ở ngôi, Lê Ý Tông chỉ đặt một niên hiệu là Vĩnh Hựu (1735 - 1740).

    05 - LÊ HIỂN TÔNG (1740 - 1786)

    - Họ và tên thật: Lê Duy Diêu, con trưởng vua Lê Thuần Tông, thân mẫu người họ Đào (người xã Bảo Vực, huyện Văn Giang. nay thuộc tỉnh Hưng Yên).

    - Vua sinh vào tháng 4 năm Đinh Dậu (1717), được Lê Ý Tông truyền ngôi vào ngày 21 tháng 5 năm Canh Thân (1740), ở ngôi 46 năm (1740 - 1786), mất vào tháng 7 năm Bính Ngọ (1786), thọ 69 tuổi.

    - Trong thời gian ở ngôi, Lê Hiển Tông chỉ đặt một niên hiệu là Cảnh Hưng (1740 - 1786).

    06 - LÊ MẪN ĐẾ (1786 - 1788)

    - Họ và tên thật: Lê Duy Kỳ (trước khi lên ngôi còn có tên là Khiêm), cháu đích tôn của Lê Hiển Tông, thân sinh là Thái tử Lê Duy Vĩ (bị Trịnh Sâm hãm hại vào năm 1769), thân mẫu là ai chưa rõ.

    - Lê Mẫn Đế sinh năm Ất Dậu (1765), lên ngôi vào tháng 8 năm Bính Ngọ (1786), ở ngôi 2 năm (1786 - 1788), mất vào tháng 10 năm Quý Sửu (1793) khi đang sống lưu vong tại Trung Quốc, thọ 28 tu

    - Trong thời gian ở ngôi, Lê Mẫn Đế chỉ đặt một niên hiệu là Chiêu Thống (1786 - 1788).

    Lê Mẫn Đế là vua cuối cùng của triều Lê (1428 - 1788). Tuy vị trí cao thấp có khác nhau nhưng dẫu sao thì trước sau, triều Lê cũng có đến 27 vị vua. Vua mở đầu của thế kỉ XVIII (Lê Dụ Tông) là vị vua thứ 22 của triều Lê.

    II - CÁC ĐỜI CHÚA TRỊNH TRONG THẾ KỈ XVIII

    01 - TRỊNH CƯƠNG (1709 - 1729)

    - Con của Trịnh Bính. Trịnh Bính là cháu đích tôn của Trịnh Căn. Trịnh Bính được quyền làm chúa từ tháng 2 năm Mậu Thìn (1688), nhưng chưa chính thức được truyền ngôi chúa thì mất.

    - Được phong làm Tiết chế, tước An Quốc công vào tháng 1 năm 1703 (tức được quyền giữ ngôi chúa kể từ đó).

    - Được nối nghiệp chúa từ tháng 5 năm Kỉ Sửu (1709), xưng là Nguyên soái Tổng quốc chính, tước An Đô Vương.

    - Tháng 9 năm Giáp Ngọ (1714), xưng là Đại nguyên soái Tổng quốc chính, Thượng sư, tước An Vương.

    - Mất vào tháng 10 năm Kỉ Dậu (1729).

    02 - TRỊNH GIANG (1729 - 1740)

    - Con của Trịnh Cương. Được phong làm Thế tử vào tháng 5 năm Canh Tí (1720). Nối nghiệp chúa từ tháng 10 năm Kỉ Dậu (17

    - Tháng 4 năm Canh Tuất (1730) tự xưng là Nguyên soái Tổng quốc chính, tước Uy Nam Vương.

    - Tháng 8 năm Nhâm Tuất (1732) xưng là An Nam Thượng Vương. Tháng 1 năm Canh Thân (1740) thì nhường ngôi cho em là Trịnh Doanh để làm Thái thượng vương.

    - Mất vào tháng 2 năm Tân Tị (176 1).

    03 - TRỊNH DOANH (1740 - 1767)

    - Con của Trịnh Cương, em của Trịnh Giang. Năm 1736 được Trịnh Giang phong làm Tiết chế Thủy Bộ Chư dinh (tức quyền giữ chức Chúa), hàm Thái úy, tước Ân Quốc công.

    - Làm Chúa từ tháng 1 năm 1740, xưng là Nguyên soái Tổng quốc chính, tước Minh Đô Vương.

    - Tháng 3 năm Nhâm Tuất (1742), tự xưng là Đại nguyên soái Tổng quốc chính, Thượng sư, tước Minh Vương.

    - Mất vào tháng 1 năm Đinh Hợi (1767).

    04 - TRỊNH SÂM (1767 - 1782)

    - Con của Trịnh Doanh.

    - Tháng 10 năm Mậu Dần (1758) được phong làm Tiết chế Thủy Bộ Chư dinh (tức quyền giữ chức Chúa), hàm Thái úy, tước Tĩnh Quốc công.

    - Nối nghiệp Chúa từ tháng 1 năm Dinh Hơi (1767), xưng là Nguyên soái, Tĩnh Đô Vương.

    - Tháng 8 năm Kỉ Sửu (1769) xưng là Thượng sư, Tĩnh Vương.

    -Tháng 10 năm Canh Dần (1770), xưng là Thượng sư, Thượng phụ, Duệ Đoan Văn Công Vũ Đức, tước Tĩnh Vương.

    - Mất vào tháng 9 năm Nhâm Dần (1782).

    05 - TRỊNH CÁN (1782)

    - Con thứ của Trịnh Sâm, thân mẫu là Đặng Thị Huệ.

    - Tháng 10 năm Tân Sửu (1781) được lập làm Thế tử. Tháng 9 năm Nhâm Dần (1782) được nối ngôi Chúa, nhưng chỉ được một tháng thì bị anh là Trịnh Khải (tức Trịnh Tông) hợp mưu với kiêu binh truất phế.

    - Trịnh Cán chết vì bệnh vào cuối năm 1782.

    06 - TRỊNH KHẢI (1782 - 1786)

    - Con trưởng của Trịnh Sâm, thân mẫu người họ Dương.

    - Tháng 9 năm Canh Tí (1780) bị Trịnh Sâm truất bỏ con trưởng, bắt làm con út, lại còn bắt giam.

    - Tháng 10 năm Nhâm Dần (1782), hợp mưu với kiêu binh để truất phế Trịnh Cán rồi tự lập làm Chúa.

    - Tháng 6 năm Bính Ngọ (1786), khi Tây Sơn tấn công ra Bắc Hà, Trịnh Khải chạy trốn nhưng bị học trò của Lý Trần Quán là Nguyễn Trang bắt nạp cho Tây Sơn. Dọc đường áp giải, Trịnh Khải đã tự tử.

    07 - TRỊNH BỒNG (1786)

    - Lai lịch chưa rõ, chỉ biết vào tháng 9 năm Bính Ngọ (1786), kh Khải đã tự tử, Trịnh Bồng tự lập làm chúa, xưng là Nguyên soái, tước Yến Đô Vương.

    - Tháng 11 năm Bính Ngọ, bị Nguyễn Hữu Chỉnh đánh đuổi, đoạn đời sau đó của Trịnh Bồng không thấy chính sử chép lại.

    Họ Trịnh trước sau có 15 người nối nhau làm Chúa. Trong thế kỉ XVIII, có tất cả 8 người giữ ngôi, mở đầu là Trịnh Cương (đời Chúa thứ 9) và cuối cùng là Trịnh Bồng (đời Chúa thứ 15). Sau khi Trịnh Bồng bị đánh đuổi, họ Trịnh không còn có vai trò gì trên vũ đài chính trị của đất nước nữa. Truyện "Việt Sử Giai Thoại " được copy từ diễn đàn Lương Sơn Bạc (LuongSonBac.com)

    III - CÁC ĐỜI CHÚA NGUYỄN TRONG THẾ KỈ XVIII

    01 - NGUYỄN PHÚC CHU (1691 - 1725)

    - Con trưởng của chúa Nguyễn Phúc Trăn, thân mẫu người họ Tống.

    - Sinh năm Ất Mão (1675), nối nghiệp Chúa tháng 1 năm Tân Mùi (1691), xưng là Tiết chế Thủy Bộ Chư dinh, Tổng Nội Ngoại Bình chương quân quốc trọng sự, hàm Thái bảo, tước Tộ Quận công.

    - Dân thường gọi Nguyễn Phúc Chu là Quốc Chúa.

    - Nguyễn Phúc Chu ở ngôi chúa 34 năm (1691 - 1725), mất vào năm Ất Tị (1725), thọ 50 tuổi.

    02 - NGUYỄN PHÚC CHÚ (1725 - 1738)

    - Con trưởng của Nguyễn Phúc Chu, thân mẫu cũng là người họ Tố

    - Sinh vào tháng 12 năm Bính Tí (1696), nối nghiệp Chúa tháng 4 năm Ất Tị (1725), xưng là Tiết chế Thủy Bộ Chư dinh, Tổng Nội Ngoại Bình chương quân quốc trọng sự.

    - Dân thường gọi Nguyễn Phúc Chú là Ninh Vương.

    - Nguyễn Phúc Chú ở ngôi chúa 13 năm, mất vào tháng 4 năm Mậu Ngọ (1738), thọ 42 tuổi.

    03 - NGUYỄN PHÚC KHOÁT (1738 - 1765)

    - Con trưởng của Nguyễn Phúc Chú, thân mẫu người họ Trương.

    - Sinh vào tháng 8 năm Giáp Ngọ (1714), nối nghiệp Chúa từ tháng 4 năm Mậu Ngọ (1738), xưng là Tiết chế Thủy Bộ Chư dinh, Tổng Nội Ngoại Bình chương quân quốc trọng sự, hàm Thái bảo, tước Hiểu Quận công.

    - Dân thường gọi Nguyễn Phúc Khoát là Võ Vương.

    - Nguyễn Phúc Khoát ở ngôi chúa 27 năm, mất vào tháng 4 năm Ất Dậu (1765), thọ 51 tuổi.

    04 - NGUYỄN PHÚC THUẦN (1765 - 1777)

    - Con thứ 16 của Nguyễn Phúc Khoát, thân mẫu người họ Nguyễn.

    - Sinh vào tháng 11 năm Giáp Tuất (1764), nối nghiệp Chúa từ tháng 5 năm Ất Dậu (1765), ở ngôi Chúa 12 năm, mất vào tháng 9 năm Đinh Dậu (1777) bởi cuộc tấn công của Tây Sơn, thọ 23 tuổi.

    - Dân thường gọi là Định Vương.

    Họ Nguyễn trước sau có tất cả 9 đời Chúa. Trong thếỉ XVIII có 4 đời chúa Nguyễn đã nối nhau trị vì ở xứ Đàng Trong. Thực ra, khi buộc phải bỏ Phú Xuân mà chạy vào Gia Định, họ Nguyễn còn có một người tên là Nguyễn Phúc Dương cũng đã được tôn làm chúa, nhưng Nguyễn Phúc Dương chưa làm được gì thì đã bị giết.

    IV - CÁC ĐỜI VUA TÂY SƠN

    Năm 1771, phong trào Tây Sơn bùng nổ. Cùng với quá trình phát triển và thắng lợi không ngừng của phong trào này, các hệ thống chính quyền của Tây Sơn cũng được thành lập và chia nhau quản lí các vùng lãnh thổ của đất nước. Các hệ thống chính quyền của Tây Sơn gồm có:

    01 - HỆ THỐNG CHÍNH QUYỀN CỦA NGUYỄN NHẠC

    A - NGUYỄN NHẠC

    - Con trưởng của ông Hồ Phi Phúc và bà Nguyễn Thị Đồng. Họ Hồ vốn gốc ở Hưng Nguyên (Nghệ An), bị cưỡng ép di cư vào Nam từ giữa thế kỉ XVII, sau bốn đời thì đổi làm họ Nguyễn.

    - Nguyễn Nhạc sinh năm nào chưa rõ, tuy nhiên, cũng có nhiều người phỏng đoán ông sinh vào khoảng năm 1743.

    - Năm 1771, Nguyễn Nhạc là người khởi xướng và lãnh đạo phong trào Tây Sơn.

    - Năm 1773. xưng là Tây Sơn Đệ nhất Trại chủ, tháng 3 năm 1776 xưng là Tây Sơn Vương, năm 1778 thì lên ngôi Hoàng đế, đặt niên hiệu là Thái.

    - Năm 1786, Nguyễn Nhạc xưng là Trung Ương Hoàng đế. Năm 1793, ông mất vì bệnh.

    B - NGUYỄN BẢO

    - Con của Nguyễn Nhạc, sinh và mất năm nào chưa rõ.

    - Nối ngôi khi Nguyễn Nhạc mất (1793).

    02 - HỆ THỐNG CHÍNH QUYỀN CỦA NGUYỄN HUỆ

    A - NGUYỄN HUỆ

    - Con thứ ba của ông Hồ Phi Phúc và bà Nguyễn Thị Đồng. Sinh năm 1753. Năm 1771 tham gia khởi xướng và lãnh đạo phong trào Tây Sơn.

    - Tháng 3 năm 1776, khi Nguyễn Nhạc xưng là Tây Sơn Vương, Nguyễn Huệ được phong làm Phụ chính.

    - Năm 1778, được phong làm Long Nhương Tướng quân.

    - Năm 1786, được phong làm Bắc Bình Vương, quản lí vùng đất từ Bến Ván (Quảng Nam) trở ra.

    - Ngày 25 tháng 11 năm Mậu Thân (tức ngày 22-12-1788): lên ngôi Hoàng đế, đặt niên hiệu là Quang Trung.

    - Nguyễn Huệ mất ngày 16 tháng 9 năm 1792, thọ 39 tuổi.

    B - NGUYỄN QUANG TOẢN

    - Con thứ của Quang Trung, thân mẫu họ Phạm (bà mất trước Quang Trung).

    - Sinh năm Quý Mão (1783), nối ngôi từ tháng 9 năm 1792, bị vua Gia Long giết vào ngày 7 tháng 10 năm Nhâm Tuất (1802) thọ 19 tuổi.

    03 - CHÍNH QUYỀN CỦA NGUYỄN LỮ

    - Nguyễn Lữ là con thứ 4 của ông Hồ Phi Phúc và bà Nguyễn Thị Đồng, sinh năm nào chưa rõ.

    - Tháng 3 năm 1776, khi Nguyễn Nhạc xưng là Tây Sơn Vương, Nguyễn Lữ được phong làm Thiếu phó.

    - Năm 1778, được phong làm Tiết chế.

    - Năm 1786, khi Nguyễn Nhạc xưng là Trung Ương Hoàng đế, Nguyễn Lữ được phong làm Đông Định Vương, cai quản đất Gia Định (vùng Nam Bộ ngày nay).

    - Nguyễn Lữ mất vì bệnh tại Quy Nhơn vào năm 1787.


    Nhắn tin cho tác giả
    Phạm Minh Tuấn @ 18:43 06/07/2012
    Số lượt xem: 634
    Số lượt thích: 0 người
     
    Gửi ý kiến

    Tin tức tổng hợp

    Kiểm tra code

    (Sẽ không hiển thị nếu code bị lỗi.)

    Ninh Hòa quê hương tôi

    Ơi con sông Dinh

    CÁM ƠN QUÝ VỊ ĐẾN VỚI BLOG TƯ LIỆU LỊCH SỬ VIỆT NAM, CHÚC QUÝ VỊ CÓ NHỮNG PHÚT GIÂY VUI VẺ VÀ THOẢI MÁI!